Vẫn sáng một cành “Mai"
Một ngày xuân sau Tết. Con đường qua Đàn Nam Giao lên chùa Từ Hiếu nườm nượp trai thanh gái lịch. Họ du xuân, lên chùa, thả tâm hồn nương theo những hàng thông vi vu êm ái trong làn gió xuân mát mẻ cho dịu bớt những vòng quay cuồng nhiệt của cuộc đua tranh sinh tồn. Bên vệ đường, rải rác những cành mai đã tàn gợi nhớ một vẻ đẹp bình dị mà vẫn có có sức cuốn hút, đồng thời nó cũng nhắc nhở cái hữu hạn của mọi sinh tồn và vòng quay nghiệt ngã của thời gian.
Những triền đồi bên con đường đi lên khu lăng tẩm các vua chúa triều Nguyễn này cũng là nơi yên nghỉ của nhiều văn nhân, chí sĩ như Hải Triều, Nguyễn Chí Diểu, Vĩnh Mai, Thanh Hải, Thanh Tịnh… Nhà thơ Vĩnh Mai quê Quảng Trị, “đồng hương” và cùng hoạt động cách mạng, hoạt động văn nghệ với các nhà thơ nhà văn Tố Hữu, Chế Lan Viên, Lương An, Hồng Chương, Trần Hữu Thung… ở Huế, Bình Trị Thiên rồi Liên khu 4 từ thời chống Pháp, nhưng năm 1984, chị Phương Chi - vợ nhà thơ Vĩnh Mai đã chọn triền đồi cạnh chùa Từ Hiếu làm nơi cải táng cho anh. Huế là nơi 60 năm trước, “cuộc gặp định mệnh” đã xảy ra giữa hai người. Huế, 70 năm trước là nơi Vĩnh Mai đến với cách mạng, với thơ…

Văn nghệ sĩ Huế viếng mộ nhà thơ Vĩnh Mai trong Ngày Thơ Việt Nam cách đây nhiều năm.
Hai chục năm trước, khi còn công tác ở Tạp chí Sông Hương, hầu như lần nào ra Hà Nội tôi cũng ghé quán nước nhỏ bên đường Lê Trực (chỗ tạm trú cuối đời của nhà thơ Vĩnh Mai) để kể chuyện anh em văn nghệ Huế và đưa cho chị Phương Chi cuốn tạp chí mới ra; và tất nhiên để được nghe chị nhắc lại những kỷ niệm về anh Vĩnh Mai, được chị mời ăn kẹo vừng với chén trà Thái ngọt giọng cho mãi đến lúc lên tàu…
Những câu chuyện rời rạc còn rất nhiều khoảng trống và khoảng lặng ngày ấy nay đã được chị Phương Chi ghi lại trong tập hồi ký Sống với nhà thơ Vĩnh Mai (NXB Thuận Hóa, 2003). “Cuộc gặp định mệnh” giữa hai người xảy ra 60 năm trước, khi cô cán bộ phụ nữ Thanh Hoá được cử vào Huế dự khóa học “văn hoá - chính trị” do Việt Minh Trung Bộ tổ chức. Bốn thầy giáo phụ trách lớp học đều là những nhân vật nổi tiếng: Nguyễn Vịnh (tức Nguyễn Chí Thanh) - Bí thư xứ uỷ, Hải Triều - Giám đốc Nha Tuyên truyền Trung Bộ, Tố Hữu - Chủ tịch Uỷ ban nhân dân Thừa Thiên - Huế và nhà thơ Vĩnh Mai. 80 học viên của 16 đoàn - từ Thanh Hóa đến Bình Thuận, vỗ tay nồng nhiệt chào các “thầy”, nhưng chỉ riêng Vĩnh Mai đứng dậy, nói rất tự nhiên: “Xin chào các đồng chí!”.
Ông thầy với thân hình gầy đen, đôi mắt sáng nhìn thẳng, bận bộ com-lê vải tốt màu sáng, cà vạt tím, đi giầy nghiêm chỉnh lập tức được cả lớp chú ý. “Người Huế à?... Vĩnh là Hoàng phái…”. Chị em thầm hỏi nhau vậy. Nhưng thầy quê Quảng Trị, tên thật là Nguyễn Hoàng, đỗ Tú tài Tây Trường Khải Định (nay là Quốc học Huế), hoạt động trong phong trào học sinh từ 1936, bị đày lên Buôn Mê Thuột, sau Cách mạng tháng Tám 1945 ra tù làm Chủ tịch thị xã Tuy Hoà rồi được Xứ uỷ điều về Huế làm Bí thư Thành uỷ kiêm phụ trách báo Quyết Chiến. Buổi lên lớp đầu tiên, thầy Vĩnh Mai gọi từng đoàn đứng lên làm quen. “Đến đoàn Thanh Hoá, anh nhìn như thôi miên chúng tôi. Riêng tôi, đôi mắt anh như xoáy vào tận con tim đang rung lên từng cung bậc…”. Nhớ lại “cuộc gặp định mệnh” ấy, chị Phương Chi đã viết như vậy.
Ngày ấy, thầy 30 tuổi, trò 21 xuân xanh. Thật khó biết chắc là vì số phận hay duyên phận đã gắn kết hai người với nhau. Bao nhiêu là xa cách và ngăn trở; không chỉ ngăn cách về không gian mà còn bị một số người ngăn trở, nên mặc cho chàng “tiếp tiếp thư đi” mà “thư chẳng về”. Sau này, chị Phương Chi mới biết một số chị em ở cơ quan đọc lén rồi giấu thư Vĩnh Mai gửi cho chị vì không muốn hai người nên vợ nên chồng. Có thể vì định kiến máy móc thời đó cho rằng chuyện yêu đương hãy đợi ngày kháng chiến thành công. Cũng có thể vì ảnh hưởng của “người thứ ba”. Đó là một chính trị viên trung đoàn tên là T.Q.C, thuộc loại “đẹp trai, học giỏi, con nhà giàu” đã ngỏ lời cầu hôn với chị trong dịp chị về dự lớp học chính trị, triết học do Khu uỷ Liên Khu Tư tổ chức ở Nghệ An năm 1949. Nhưng mặc cho “tổ chức” gán ghép, bố trí T.Q.C về tổ chị hướng dẫn học tập để gần gũi nhau, mặc cho C. là một chàng trai “trẻ đẹp, da trắng hồng, mũi dọc dừa, miệng rất tươi, mắt đen láy thông minh”, rút cục chị vẫn kiên quyết báo cáo với tổ chức để “từ hôn”…
Đã có lúc tôi thoáng nghĩ: Nếu như chị Phương Chi nhận lời với anh C. ngày đó thì có thể… Chỉ thoáng nghĩ vậy thôi, chứ đẩy ý nghĩ đi xa hơn thì không chừng vì cảm thương cho số phận chị, mà hoá ra xúc phạm đến những tình cảm cao quý của chị; vả lại, trong cuộc đời, nào ai học hết chữ “ngờ” và quan niệm “hạnh phúc” đâu phải ai cũng giống ai. Có điều, suy ngẫm về cuộc tình mà chị Phương Chi gọi là “định mệnh” này, tôi có cảm tưởng là chỉ riêng mối tình “sét đánh” trong khoảnh khắc “thầy” nhìn như “thôi miên” trò trong một lớp học ít ngày không đủ tạo nên sức mạnh và cả chất “kết dính” thắng được những lực cản đủ kiểu trên đường đời trắc trở. Cũng không hẳn là vì “định mệnh” nên con người ta không cưỡng lại được. Phải chăng xoắn xuýt, quyện lẫn với mối tình “sét đánh” như của bao đôi lứa trên đời, là tình thơ, tình đồng chí trắng trong, tinh khiết những ngày đầu cách mạng hào hùng mà lãng mạn.
12 năm sau, trong một đêm trăng thu thật đẹp, ông thầy - nhà thơ lãng mạn mà “cứng cổ” đang cùng chung tổ với Bùi Hiển, Yến Lan, Đào Vũ đi thực tế nông thôn ở Hải Dương, đã “kỷ niệm” 8 năm ngày cưới bằng việc ghi mấy dòng nhật ký:
“…Huế 1946… Lớp học tổ chức ở Trường Hậu Bổ cũ, thấy nàng chăm chú theo dõi mình giảng bài, chỉ thấy nàng có cặp mắt xanh biếc và hiền. Rồi cặp mắt ấy mình đã gặp ở bệnh viện Hà Lũng, huyện Thọ Xuân, Thanh Hoá, cùng lần gặp nàng đi thăm nhà thơ Hồng Nguyên vào mùa thu 1947. Từ đây mình đã tung dư luận: “Vĩnh Mai và Phương Chi yêu nhau”. Mình gửi thư liên tục. Ta giăng lưới bắt chim trời, biết đâu chim trời chẳng sa vào lưới…”.
Người cách mạng - dù trong kháng chiến gian khổ vẫn yêu nhau say đắm và cuồng nhiệt thế đó, chứ đâu như có thời ta lầm tưởng… Nhà thơ Hoàng Cầm, trong Lời tựa cho Vĩnh Mai tuyển tập (NXB Hội Nhà văn, 2003), trước khi trích dẫn mấy câu thơ mà ông cho là rất thật và hay (“…Bóng ai tha thướt đằng xa ấy / Bóng ghé nghiêng nghiêng bóng vội chìm…/… Thời gian như chết giữa lòng tôi / Ngong ngóng người xa mấy bữa rồi / Giá biết thế này đừng hẹn trước / Cũng đành nước chảy với mây trôi…) cũng đã viết:
“Phải nhấn mạnh một điều: Vĩnh Mai làm thơ tình ngay từ những ngày đầu kháng chiến chống Pháp, giữa lúc các nhà thơ còn ngần ngại và một nhà phê bình học thường coi những bài thơ tình là biểu hiện của tư tưởng tư sản”.

Nhà thơ Vĩnh Mai
Thực ra, trong 10 tập sách đã in, những bài thơ thành công nhất của Vĩnh Mai “đều chân thành, đôn hậu, cởi mở… khi ông viết về quê hương, về những người thân, về những đau xót, mất mát của đất nước và con người bị chiến tranh tàn phá”, như lời nhà thơ Ngô Văn Phú đã nhận xét; trong đó có những bài nổi tiếng được truyền bá rộng rãi trong kháng chiến chống Pháp như Khóc Hoài tưởng nhớ người bạn thơ trẻ vừa hy sinh. Về bài thơ này, Hoàng Phủ Ngọc Tường, sau khi nhắc đến Thơ Mới với ngôn ngữ cao sang mà ông sùng bái, đã nhận xét:
“ Lần đầu tiên tôi biết đến một bài thơ với “thi pháp” khác lạ… Đây không phải là bắt chước giọng nông dân; đây là giọng nói nứt ra từ máu thịt nông dân. Và tôi nghĩ rằng những gì đã là máu thịt, là cội nguồn đích thực thì đều làm ra thơ hay, “hay muôn đời”…”
“…Chiều hôm nay lật đống báo trong hầm / Tau thấy một bài thơ mi nóng hổi… /…Nghe lau lách xạc xào bên phía cửa / Nghe giun dế rì rầm tau ngờ ngợ / Như nghe mi tâm sự với lòng tau…”
Bài thơ Người dân quân xã viết năm 1948 gồm 21 khổ dài 84 câu lại là một bức tranh sinh động, là bài học cụ thể về cuộc chiến tranh du kích độc đáo của Việt Nam:
“…Hai bàn tay gân guốc / Sần sùi lớp chai dày / Vừa buông cuốc buông cày / Đã cầm ngay súng đạn…/…Giặc trên không đổ xuống / Giặc dưới nước ùn lên / Giặc vây chặt bốn bên / Đen dày như bổ lưới / Nhưng giặc vào xóm dưới / Anh đã tới làng trên / Giặc cất bước đi lên / Anh vòng quanh trở xuống…/ …Lô cốt cao chất ngất / Không rào được chân anh / Anh có dãy trường thành / Giữa lòng dân vững chãi…”
Kể về sự nghiệp thơ của Vĩnh Mai cũng nên nhắc đến những bài thơ trào phúng, đả kích của ông với bút danh Búa Tạ. Xin thử đọc một bài, một chân dung nay vẫn thường xuất hiện đây đó - bài Vua thơ: “Vua thơ…ông vỗ ngực là vua / Lý Bạch mà còn cũng chịu thua / Thượng cấp cũng nhiều tay nể nả / Làng thơ lại lắm đứa a dua // Xưa buồn xuân héo cùng thu lạnh / Nay tán khoai chiêm với lúa mùa / Ông mới khen rồi ông lại chửi / Rõ là ông giỏi món về hùa.”
Mấy dòng nhật ký kể trên cũng như bài thơ trào phúng vừa dẫn đã thể hiện tính cách “một con người cương trực, thẳng thắn, hồn nhiên, nhiều lúc “ngông cuồng”, “ngạo mạn”...” - Đó là nhận xét của nhạc sĩ Trần Hoàn về người “thủ trưởng” cũ của mình trong một bài viết trên báo Văn nghệ” nhân dịp kỷ niệm 20 năm ngày mất nhà thơ Vĩnh Mai (Theo chị Phương Chi, chính Phó Ban Tư tưởng - văn hoá Trần Hoàn, trong dịp kỷ niệm sinh nhật 80 năm của nhà thơ Vĩnh Mai đã đến thắp hương và nói vui theo kiểu “văn nghệ”: “Thưa thủ trưởng, lâu nay em bận quá, nay mới đến thăm thủ trưởng, mong được thứ lỗi”. Vị nhạc sĩ đang ở bậc cao danh vọng chưa từng là thuộc cấp của Vĩnh Mai, nhưng kính trọng thưa “thủ trưởng” với ông vì ông hơn mình 10 tuổi, lại từng làm Bí thư Thành Huế khi mình còn là học sinh Quốc học). Làm “chứng” cho nhận xét nói trên, nhạc sĩ đã dẫn ra bài thơ Tự vịnh của Vĩnh Mai:
“Ngày xưa ta ở cung trăng / Thủng trời rơi xuống hoá thằng Vĩnh Mai / Muối dưa đắp đổi qua ngày / Công danh chẳng thiết, trời đày làm thơ!”
Bài thơ làm cho vui mà ứng nghiệm với số phận lận đận của ông. Mà tính cách “ngông cuồng” như thế, làm sao “người ta” dám giao cho những trọng trách luôn phải tỏ ra mực thước, nghiêm nghị? Vậy nên sau khi được “lên chức” Bí thư Thành uỷ Huế và Thường vụ Tỉnh uỷ Quảng Trị, ông cứ tụt dần trên nấc thang quyền lực: xuống làm cán bộ Ban Tuyên giáo Chi hội Văn nghệ Liên khu 4, rồi Chánh Văn phòng Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam, tổ trưởng thơ báo Văn nghệ. Có lẽ cũng vì thế mà 20 năm “người ta” quên lên lương cho ông; và cũng mãi 20 năm sau khi ông mất, Hội Nhà văn mới chợt nhớ ra ông là người từng có nhiều công lao, lại hoạt động cách mạng từ thời tiền khởi nghĩa, đề nghị truy tặng ông Huân chương Độc Lập hạng 2.
Đọc hồi ký của chị Phương Chi mới hiểu thêm vì sao nhạc sĩ Trần Hoàn lại “tặng” cho nhà thơ đồng hương từ “ngông cuồng” - dù là trong ngoặc kép. Trong cuộc “rèn cán chỉnh quân” năm 1953, người ta mổ xẻ phê phán nhà thơ dòng dõi Hoàng tộc Văn Tôn (tức Hải Bằng) với bài thơ Gửi em người nữ cứu thương là “mất lập trường”, sao lại “anh em” với “con y tá người Pháp là kẻ thù”… Ai cũng tưởng Vĩnh Mai là chính trị phạm từ Buôn Mê Thuột về, hẳn sẽ tuôn ra những lời rất đanh thép. Không ngờ ông nói:
“Văn Tôn viết như vậy mới thơ… Thấy xác em nằm trên đống cỏ khô / Đắp cho em mền trấn thủ…Nhân đạo biết bao. Chẳng lẽ viết Thấy xác mi nằm…Đắp cho mi cái bao tải để tỏ ra có lập trường à?”
Chưa hết! Thời kháng chiến chống Pháp ở Quảng Trị, trong đợt học tài liệu quan trọng “Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi” do Vĩnh Mai phụ trách, khi mọi người đã thông tư tưởng, bất ngờ ông nhà thơ kiêm Trưởng Ty Tuyên truyền bỗng nói: “Tôi bảo trường kỳ kháng chiến không thắng lợi”. Thế là cả trăm học viên cùng một chiến tuyến tranh luận mấy ngày với “đối phương” chính là lớp trưởng. Vậy mà số đông bị đuối lý. Lúc này ông Trưởng ty lại trở chứng nói: “Bây giờ tôi bảo trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi”. Lại tiếp tục tranh luận và rút cục cả lớp đồng tình với ông. Cách học “kỳ quặc” này đến tai cấp trên, Vĩnh Mai bị phê bình. Ông nói: Làm tuyên truyền thì phải có lý luận vững chắc, mới “đấu” được với kẻ địch. Thật ra, chỉ vì nếp quen tuân phục nói một chiều, ca một giọng, chứ “cách học” của Vĩnh Mai là “chuyện xưa” trên thế giới. Đó là khi dạy và học phải tránh thụ động, biết lật đi lật lại vấn đề; đó là cũng là một “hạt nhân” của tư tưởng C. Mác: với người làm khoa học, nghiên cứu luôn phải biết phê phán, hoài nghi.
Vĩnh Mai còn có “nỗi oan” cười ra nước mắt. Ấy là hồi ông được cử đi làm “Cải cách ruộng đất” đợt đầu ở Thanh Hoá, về “ba cùng” với Đôn, một nông dân nghèo độc thân. Không đồng tình với cách đề “chỉ tiêu phần trăm” địa chủ ở từng xã, ông lên Đoàn uỷ báo cáo, gặp một vị chức rất to ở “Trung ương” về kiểm tra. Hai người tranh luận kịch liệt; khi biết Vĩnh Mai là Tú tài Tây, vị quan to Trung ương liền phán: “Trí thức bấp bênh” (sau “sửa sai” thì chính vị quan to lại bị kỷ luật). Ngược lại, Đôn rất quý Vĩnh Mai. Ông dạy Đôn học, làm cả một trường ca về mối tình của anh với cô Thanh - cũng từng là một đầy tớ nhà địa chủ như Đôn, mời anh nếm thử cà phê nữa! Không ngờ “tai hoạ” lại bắt đầu từ đây. Vĩnh Mai là người có thể nhịn ăn, nhưng không nhịn được cà phê. Thời ấy, chỉ có cách cho cà phê vào khăn tay buộc chặt, dầm vào nước sôi, rồi thêm chút đường đen. Do Đôn khoe với bạn chuyện uống cà phê, ông Đội Vĩnh Mai còn đọc sách Tây nữa, thế là Bí thư Đoàn uỷ triệu tập ông lên bắt làm kiểm điểm. Ông không biết vì tội gì, thẳng thừng chất vấn, liền được giảng giải:
- Tội của anh là uống cà phê, là tiểu tư sản. Nhưng nghiêm trọng hơn cả là đọc sách Tây, vậy là mất lập trường lắm!
- Lạ nhỉ? Hồi tôi hoạt động trước 1945 trong Huế, các anh Tố Hữu, Nguyễn Chí Thanh và cả thợ thuyền đều vào quán uống cà phê…
- Hồi ấy còn thực dân, bây giờ đã tham gia kháng chiến mà thèm uống cà phê là tiểu tư sản.
Bị buộc phải viết kiểm điểm, Vĩnh Mai liền viết:
A- Chữ Tây là rất hay.
B- Nhà Tây là rất sang.
C- Phụ nữ Tây là rất lịch sự.
Ba điểm ấy, tôi (Vĩnh Mai) rất thích.
Còn café giúp tôi tỉnh ngủ…
Bản kiểm điểm đến đây là đủ.
Ký tên: Vĩnh Mai.
Một tuần sau, ông nhận được quyết định: “Trả về Chi hội Văn nghệ Khu 4”.
Được trở về gặp lại bạn bè văn nghệ, chị Phương Chi nấu nồi chè “liên hoan”. Nghe Vĩnh Mai kể chuyện “kiểm điểm”, Bùi Hiển, Hoàng Trung Thông, Trần Hữu Thung… ôm bụng cười phun cả chè!
“Tai” vừa qua thì Vĩnh Mai lại dính “nạn nghề nghiệp” hồi “56-57” do có “tội” in chung tập thơ Trên ghế đá với nhà thơ Lê Đạt, lại không chịu đấu tranh với những văn nghệ sĩ đang bị “lên án”. Lại phải đốt hết bao thuốc lá này đến bao thuốc khác, ngồi cả tuần viết kiểm điểm…
Hẳn sẽ có người dẫn câu hát “nhắc chi ngày xưa đó để xé buồn lòng ta” hàm ý rằng nên “cho qua đi”, nhất là khi nhà thơ đã được Nhà nước tặng Huân chương Độc lập cao quý, rồi Tuyển tập được in sang trọng. Thì đó cũng là một nhẽ để thấy chúng ta thật may mắn được hít thở bầu không khí “Đổi mới” ngày một trong lành. Chị Phương Chi đã nhắc lại một kỷ niệm sau kỳ Đại hội “Đổi mới” của Hội Nhà văn, các bạn đồng nghiệp như Văn Cao, Trần Hữu Thung, Xuân Hoàng, Huy Phương, Sơn Tùng, Lương An, Phan Xuân Hạt… đã đến thắp hương cho Vĩnh Mai. Xuân Tửu nói to:
“Ông Vĩnh Mai ơi! Ông không sống đến bây giờ mà chứng kiến, những chính kiến lập luận phát biểu xưa của ông, của anh em chúng ta được đại hội chấp nhận rồi. Chúng ta đã được cởi trói…”
Cho dù vậy, nói đến số phận một con người, làm sao có thể quên những năm tháng gian nan. Và những trang sử cũ, những bài học cũ từ ngàn xưa vẫn không ngừng được nhân loại nhắc đến để hậu thế không tái phạm sai lầm. Lại có những điều đau lòng không thể “sửa sai” được nữa. Chị Phương Chi cũng đã viết:
“…Khổ vật chất đã đành, vì đất nước ta nghèo. Nhưng cái khổ bị dày vò tinh thần mới đau hơn. Tôi đã gắn bó với nhà thơ, người chồng bị dày vò tinh thần cho đến chết…”
Và có phải vì vậy mà chị đã phải cam chịu nỗi bất hạnh không một lần được làm mẹ? Lại có những cái khổ vật chất nhưng lại gây chấn động tinh thần đêm nay sang đêm khác. Ấy là trong nhiều năm, hai vợ chồng luôn phải sống trong cảnh chật chội, nhất là khi ở 73 phố Thuốc Bắc; căn phòng chỉ có 7 mét vuông, “chật đến nỗi không còn chỗ làm liếp mà che cửa để người qua lại khỏi nhìn thấy, đành tạm che ri-đô vải. Người dắt xe đạp đi qua đụng vào giường, ngủ trưa không được và 11 giờ đêm, công nhân vệ sinh đổ thùng làm rơi giữa sàn, phải dùng tro mà chống hôi thối, rồi chùi sau…”
Ôi chao! Cũng đáng gọi là “Chuyện khó tin nhưng có thật”. Nhà thơ “ngông cuồng” của chúng ta thì lại tự cho mọi sự “trục trặc” là vì mình nên đã hơn một lần bàn với vợ: “…Sống với anh em sẽ không hy vọng có con đâu… Anh muốn Phương Chi có hạnh phúc hơn. Phương Chi phải li dị với anh thôi…”.
Chị Phương Chi “đã ngồi khóc ròng buổi chiều ấy”; khóc vì nỗi bất hạnh của mình mà cũng vì cảm động trước sự hy sinh cao cả của người bạn đời. Sau đó, hai người đã đi tìm con nuôi, nhưng thật không may; lần đầu, nhận một cháu gái lạc trên tàu hoả do công an đường sắt đem về cho, nuôi được một tháng thì cha mẹ cháu tìm đến, đành phải chia tay, mặc dù hai người thương cháu như con đẻ, đến mức Vĩnh Mai đã viết nên những câu thơ buồn đứt ruột: “Con bước đi lụm đụm / Chốc chốc lại nhìn lui / Lòng ba bỗng bùi ngùi / Thấy thương con thương quá”.
Lần thứ hai, nhận nuôi con của người bà con ở quê vào lúc đói kém, nhưng được mấy năm, khi đời sống khá lên, họ lại ra xin cháu về và một lần nữa, hai người lại “trắng tay”!
Cũng có thể nói, chính là với đức hy sinh cao đẹp ấy mà “cậu Tú tài Tây” mới trở thành người cộng sản không run sợ trong ngục tù đế quốc và nhiều năm sau thì bất chấp mình bị thiệt thòi, dám cất tiếng nói ngay thẳng bảo vệ đồng nghiệp; khi làm Chánh văn phòng Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật, được cấp căn phòng 30m2 đầy đủ tiện nghi ở phố Phan Bội Châu, ông đã nhường cho một bạn thơ…
Vĩnh Mai tự bảo “công danh chẳng thiết”, nhưng người đời và nhất là bạn hữu đồng nghiệp không quên “ghi công” của ông. Nhà thơ Hữu Thỉnh khi là Tổng thư ký Hội Nhà văn Việt Nam kiêm Tổng biên tập báo Văn nghệ đã viết:
“… Với cương vị là Trưởng Ban biên tập Thơ, nhà thơ Vĩnh Mai hết lòng phát hiện, chăm sóc những người làm thơ trẻ. Sự ưu ái và tấm lòng bao dung của anh đã góp phần quan trọng vào việc hình thành đội ngũ các nhà thơ chống Mỹ…”.
*
Tròn 25 năm đã qua kể từ ngày Vĩnh Mai vĩnh biệt người bạn đời chung thuỷ - cô học trò nhỏ xinh xắn xứ Thanh “có cặp mắt xanh biếc và hiền” đã hút hồn “cậu Tú” Mai 60 năm trước …
Thật không ngờ, người chị - người bạn nồng nhiệt với rất nhiều anh chị em văn nghệ sĩ tưởng là vẫn mãi tươi trẻ ấy nay đang phải nương thân trong một Viện dưỡng lão ở Hà Đông. Tôi đọc lá thư từ Viện dưỡng lão của chị gửi cho anh bạn thơ Nhất Lâm ở Huế bàn chuyện tổ chức đêm thơ Vĩnh Mai tại Quảng Trị trong dịp 25 năm ngày nhà thơ qua đời (16/2/1981), lòng bồi hồi xúc động khôn nguôi. Cuộc sống đã có biết bao thay đổi, bao nhiêu là trường phái nghệ thuật nảy sinh và suy tàn, nhưng những tác phẩm như Khóc Hoài vẫn là một điểm son trong nền văn học cách mạng và kháng chiến của Việt Nam, vẫn được nhiều người nhớ đến:
“Tau với mi hẹn nhau từ Khu Bộ / Lúc trở về cố sáng tác văn chương… /…Hoài mi ơi! Mới bước được nửa đường / Răng mi chết thình lình oan uổng rứa…/…Thôi văn chương nào có thiếu chi người / Tau nói rứa mà lòng tau ứa lệ!"
Từ năm 1947, Vĩnh Mai đã kết thúc bài thơ nổi tiếng của mình như thế. Phải! Văn chương nào thiếu chi người. Nhưng chẳng ai có thể thay thế được ai. Vĩnh Mai, như “chân dung” anh tự hoạ:
“Cuộc đời tôi mưa nắng / Suốt mấy chục năm dài / Vẫn sáng một cành mai…”.
*
Bài viết được thực hiện từ mùa xuân… gần hai mươi năm trước. Mùa xuân này, những cánh mai vàng khoe sắc càng nhiều bên những con đường của Thành phố Huế và Huế cũng như Quảng Trị - quê hương của nhà thơ Vĩnh Mai đang rực rỡ cờ hoa mừng 50 năm ngày thống nhất đất nước… Ngày vui, càng thương nhớ những người đã đi xa….
(Trích từ sách Quảng Trị – vùng đất hội tụ)

Tôi gặp nữ thi sĩ Anh Thơ vào những năm đầu thập niên 1960. Với tôi, khi đó bà là một cây cao bóng cả của làng thơ văn,...
Bình luận