Nhớ Tết quê
Vào tháng mười một âm, nhà nhà ở quê tôi lại náo nức lo cái tết Nguyên đán đang đến gần. Tết cho cả người sống và người đã chết. Tôn tạo mộ phần phải xong trước hăm ba để ông bà Táo Quân đem báo cáo lên thiên đình. Suốt tháng mười một âm, mùi hương theo gió đồng tỏa ra lâng lâng, bí hiểm.
Đầu tháng tý, câu cửa miệng hỏi thăm nhau đã quanh chuyện Tết với chỉnh trang mồ mả. Mọ Lửng tay đấm đấm cái vai hay giở chứng. Cất tiếng hỏi bủ hàng xóm (là mẹ tôi) rồi lại tự rủa mình:
- Một này, bên bủ có sửa sang thêm gì cho các cụ không? À mà rõ ngứa miệng chửa. Cơ ngơi các cụ bên ấy có khác gì lâu đài. Nhất làng rồi nhỉ. Còn phải sửa sang gì nữa.
“Một này”, là cách gọi tháng mười một âm: một - chạp - giêng - hai. “Sửa sang” là tu chỉnh, tôn tạo mộ phần cho người đã khuất.
- Bủ “bên ấy” thở hắt ra:
- Dạ, ơn mọ có nhời thăm. Nhà cháu cũng xuê xoa tí gọi là báo hiếu các cụ thôi. Mọ khen thế bằng rủa nhà cháu. Cơ ngơi bên mọ mới đáng gọi lâu đài. Đom đóm đâu dám sánh với Sao Khuê ạ.
Bây giờ là hai mọ Sao Khuê và đom đóm. Mọ Sao Khuê lại đấm vai thùm thụp. Ngồi xuống bờ hè, giọng thủng thẳng:
- Bủ dạ giời. To nhỏ gì cốt ở cái lòng hiếu nghĩa của mình. Sống vì mồ vì mả chứ đâu sống vì cả bát cơm.
Vâng sống vì mồ vì mả chứ đâu sống vì cả bát cơm! Tháng chạp năm nào tôi cũng về quê sắm lễ thắp hương “quét mộ” tổ tiên. Nghĩa địa Mả Vôi nằm ngoài kênh dẫn nước. Trước đây là nơi rất đáng sợ đối với người yếu bóng vía mỗi khi phải đi qua vào lúc chiều tối muộn. Nhưng mấy năm nay mồ mả được tôn tạo, đường đi lối lại phong quang khiến Mả Vôi bớt đi sự u ám. Quan niệm người sống ăn nên làm ra cũng nhờ phần âm trạch. Thành thử con cháu trả ơn các cụ dưới ấy bằng việc xây dựng “nhà cao cửa rộng”. Nhiều ngôi mộ lên tầng. Mái ngói, đầu đao cong vút. Hoa văn, họa tiết cầu kỳ. Kiến trúc Âu, Á đan xen. Người ta bắt đầu khoe khéo cái sự giầu, sự hiếu thảo của mình cho thiên hạ biết.

Ảnh minh họa.
Nhìn tổng thể thấy “nhà cửa” xóm Mả Vôi thật lôm côm, nhưng cũng vui mắt phết! Người làng gắn biển: “Nghĩa trang văn hóa Mả Vôi”. Lúc đầu cãi nhau chí chết vì hai chữ “văn hóa”. “Người chết biết gì nữa mà văn với chả hóa?”. “Văn hóa thì đã sao. Người sống có khu dân cư văn hóa, thì người chết không văn hóa được à? Trần sao âm vậy!”... Trẻ con cứ tưng tưng gọi: “Xóm Mả Vôi”. Nghe mãi cũng quen tai, hay hay.
Bao quanh xóm Mả Vôi bây giờ là bốn con đường bê tông. Chương trình “Nông thôn mới” bê tông hóa cho máy cày, máy gặt đi lại. Ngày đêm xe cơ giới chạy ầm ầm. Đám cờ bạc lấy Mả Vôi làm nơi đánh bài tá lả. Vào những ngày hội hè, lễ Tết có khi xóm Mả Vôi đèn sáng thâu đêm.
Chuyện nọ xọ chuyện kia. Hết mồ mả hai bà Sao Khuê, đom đóm quay sang chuyện ăn Tết:
- Ờ mà, thiên hạ đồn rầm bên bủ vỗ được chú trư mẫm lắm. Cho tôi đụng một chân nhẻ.
- Thế ngỡ tưởng mọ ấm chỗ con ỉ rồi. Nghe bảo bù cu chân dện lắm mà.
Bà Sao Khuê có vẻ chán chuyện. Phủi đít đứng dậy nói như hát: “Sáng mưa, trưa nắng, chiều nồm. Trời còn ở vậy nữa mồm thế gian”.
…
Mỗi lần về quê cuối năm, kỉ niệm tuổi thơ lại trỗi dậy. Niềm vui nhất những năm tháng đó có lẽ là mỗi khi Tết đến. Mọi người vẫn nói: “Sướng như Tết”. Chả biết người lớn thì sung sướng về điều gì nhưng lũ trẻ mới lớn chúng tôi cảm nhận cái Tết sướng là được nghỉ học, rong chơi. Được xem các đám mổ lợn ăn đụng. Được mặc quần áo đẹp, len lỏi đuổi nhau trong phiên chợ Tết.
Chợ Tết làng tôi họp vào ngày 26 tháng chạp. Một ngày kỳ lạ. Hầu như nhà nào cũng kéo nhau ra chợ. Phụ nữ mua bán sắm sửa cho Tết. Rồi thanh thỏa với nhau bao nhiêu chuyện buồn, vui khúc mắc trong năm. Nam giới uống rượu, thưởng trà, dự đoán một cái Tết vui hay tẻ nhạt, báo hiệu cho một năm hanh thông hay trắc trở. Phiên chợ cuối năm như một thứ lệ bất thành văn. Ai còn nợ nần thì gặp nhau trả cho hết. Ai có gì mắc mớ trong tình cảm, quan hệ xóm giềng thì cũng giải quyết cho xong. Khi tôi lớn lên đã nghe câu nói rất chi ngang ngược: “Bỏ con bỏ cháu, không bỏ 26 chợ phiên”. Chợ phiên chẳng khác gì một hội nghị tổng kết, khép lại mọi công to việc nhỏ trong năm của người làng.
Ngày chợ, trên bến dưới thuyền nườm nượp người. Tinh mơ đã thấy những cánh đò ngang dập dìu trong sương sớm. Tiếng gọi, tiếng bước chân giật cả làng dậy như cái tổ cò lao xao có động. Nhanh nhất là đám trẻ con, vừa bước chân ra khỏi ổ rơm, vớt tí nước buốt ngăn ngắt lên mặt, vừa đi vừa xoa là tíu tít nối nhau xuống chợ. Người lớn giọng khê nặc hét: “Rõ chưa họp chợ đã họp kẻ cắp”. Nhưng cái sức hút ma mị của chợ Tết kéo cả làng chảy theo về khúc đê quẹo từ lúc còn bảnh mắt làm cho cái khoảnh đất cạnh dốc “Chó đá” mờ mờ ảo ảo như nơi tụ hội của những bóng ma trong phiên chợ âm phủ.
Đám trẻ con len lỏi giữa những dãy hàng hoá ăn quà vặt. Đứa tập tọng hút thuốc. Đứa mút kẹo mạch nha. Đứa cầm cả xâu táo ôm quấn lấy nhau chỗ mấy hàng tò he. Mồm mũi đen nhẻm như mõm chó. Đám con trai đuổi nhau chạy loạn chợ cho đến lúc mệt nhoài. Lũ con gái e ấp cuộn vào nhau trước mẹt hàng tạp phẩm. Chúng chọn gương lược, cặp tóc. Những đứa lớn hơn, mắt hấp háy háo hức lén nhìn đùm su chiêng may bằng vải tiết kiệm treo lẵng nhẵng trên sào… Thôi thì có đồng nào tiết kiệm được trong năm đem ra mua linh tinh với ăn quà vặt hết.
Sau trò chơi chợ là cái thú đi xem mổ lợn Tết. Ăn đụng thịt lợn là một tập tục từ xưa ở làng tôi. Vài nhà hẹn nhau mổ chung một con lợn. Nhà ăn một chân. Nhà neo ăn nửa chân. Đông người, khá giả thì nửa con. Từ sáng ngày 29 bắt sang trưa ngày 30 tháng chạp. Tiếng lợn kêu rộ từ xóm trên xuống xóm dưới. Đám trẻ con chúng tôi túm năm tụm ba. Đứa cõng em, đứa ôm áo, xếch quần lếch thếch theo hết đám mổ lợn này đến đám mổ lợn khác.
Năm ấy, bầm tôi nuôi được con lợn ngang tạ thịt cho hàng xóm ăn đụng. Bố tôi vắng nhà, cụ Bảng là người vai trên đến coi sóc việc mổ lợn chia phần. Cùng ăn đụng lợn nhà tôi Tết đó có anh cu Tế. Anh Tế mới ngoài ba mươi tuổi mà đã nổi tiếng là người lấy tiết và hãm tiết canh giỏi nhất làng. Lúc con lợn được bốn người lực lưỡng vật ngửa trên cái thớt cối xay, anh cu Tế đã lăm lăm con dao bầu. Tay kia cầm cái phạng. Đám trẻ con dính vào đít anh Tế như đám mạt sắt bị hút theo cục nam châm. Cãi vã râm ran. Đứa nào cũng cố lách lên để đứng gần anh Tế nhất. Trời lạnh, chót tai đầu mũi tấy đỏ. Mấy chục ánh mắt chăm chắm vào cái mũi dao bầu nơi tay anh Tế ươm ướm vào ức con lợn. Thỉnh thoảng một đứa lại hít đánh xoạt cái dây mũi thò lò xanh lè chảy bắc qua mồm. Vài đứa cõng em, khăn áo lôi thôi kéo lê trên mặt đất, đít chôn để tơ hơ.
Anh Tế lấy tiết canh thật điệu nghệ. Đã chọc dao vào là đúng tiết tim chứ không phải tiết phổi. Tiết tim đỏ hồng, khi đánh ra bát tiết canh đỏ rực chứ không ngả đậm như tiết phổi. Người khác phải dùng ba chiếc đũa để khoắng tiết cho khỏi đông, nhưng anh Tế chỉ cần lắc phạng. Anh cũng không phải dùng đến muối, nước chanh hay nước cọng chuối non cho tiết khỏi đông. Cái con dao nơi cổ con vật nghiêng một góc vừa phải để tiết chảy ra từ từ, chảy chụm chứ không bắn thành tia. Tay kia anh lắc phạng nhịp nhàng. Tiết nháng lên, nháng lên, đổ bọt là được. Cụ Bảng lụng thụng tấm áo ba đờ xuy đứng trên hè nói với xuống:
- Bố cu Tế lấy dư dư vào nhá, để ai xin thì cho. Năm nào cũng có nhà hỏng tiết.
Đám trẻ con nghe thế tranh nhau nhòm vào phạng tiết như sợ hỏng. Anh Tế dậm chân bình bịch, quát tướng. Chúng dãn ra được một lúc lại rồi lại chụm vào như đám bèo tấm trên mặt ao bị hòn đá ném trúng.
Do là lợn của nhà nên năm ấy tôi được một vinh dự. Cụ Bảng cho tôi đi làm lòng lợn cùng cụ. Nói cho oách vậy thôi chứ đi với cụ là để cho cụ sai phái khi cần. Cụ bảo gỡ mỡ chài chỗ này, tuôn nước rửa lòng chỗ kia là răm rắp làm theo. Được cụ Bảng chọn đi làm lòng cũng là ngầm cái ý đi mà học cụ để rồi khi lớn còn biết đường mà làm. “Con lợn có béo cỗ lòng mới ngon”. Nhưng muốn ngon thì phải biết làm cho sạch bộ lòng. Cụ Bảng bảo con lợn có béo, mà bộ lòng làm ẩu, khi ăn vừa dai vừa hôi thì coi như vứt.
Tôi bưng cỗ lòng ra bờ ao trong ánh mắt thán phục của đám bạn cùng lứa. Tôi tò mò lật gỡ đoạn lòng non vướng víu. Trong lúc cụ Bảng còn đang chọn chỗ ngồi, tôi lấy mũi dao cắt rời lòng non nối với dạ dày. Cụ Bảng nhìn thấy, cầm đoạn lòng lên, mắt trợn tròn. Bất ngờ cụ vung tay tát như trời giáng vào mặt tôi. Giọng cụ nghiến lại, chửi:
- Bố mày chứ. Cắt rời ra thế thì lấy cái mả mẹ mày để tuôn nước rửa lòng à?
Tôi sợ xanh xám cả người. Ân hận nữa. Suốt buổi, cụ Bảng vừa gằm gằm ánh mắt qua cặp kính lão vừa đe nẹt, răn dạy.
Những cái Tết sau đó không bao giờ tôi còn được đi làm lòng lợn với cụ Bảng nữa. Đứa khác được chọn đi bao giờ cũng phải nghe bài giáo huấn dài lê thê của cụ. Cái gương tày liếp của tôi là ví dụ vô cùng sinh động. Cụ đay nghiến: “Miếng ăn miếng uống là phải cho cẩn tắc, đúng kiểu. Đến miếng ăn mà cũng tạm bợ, xô bồ thì sự khoan khoái, thanh cao ở đâu. Bây giờ tôi thấy các anh chị hỏng, hỏng to”.
Giờ đã gần bát thập, tôi vẫn nhớ những Tết quê xưa. Khoảnh khắc thời gian đặc biệt với mỗi người. Nó khơi gợi và lưu giữ cho ta biết bao kỷ niệm của một cái Tết Việt đậm đà tình làng nghĩa xóm và hương vị khó quên của đồng quê Bắc bộ. Ảnh: Một góc chợ Tết những năm 1950

Mùa xuân gọi cái Tết đến rất gần. Nụ đào núi đã chúm chím khoe màu trên những sườn núi đá, bất chấp cơn gió lạnh...
Bình luận