Nhà văn làm báo ở chiến trường

Năm 2024, khi đoàn các nhà văn quân đội đi Điện Biên thực hiện chuyến công tác, gặp gỡ các nhân chứng, lấy tư liệu để viết về 70 năm Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (7/5/1954 - 7/5/2024), chúng tôi đã nhắc đến các nhà văn, nhà thơ làm báo ở chiến trường, nhất là những người đã hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Pháp như Nam Cao (1917 - 1951); Thâm Tâm (1917 - 1950); Trần Đăng (1921 - 1989);… Các nhà văn liệt sĩ đã để lại không chỉ sự tiếc thương vô hạn mà còn là những khát vọng sáng tạo trao truyền cho thế hệ sau. Điều đó đã trở thành nguồn sáng, ngọn lửa cháy bền bỉ, dẫn dắt các thế hệ văn nghệ sĩ vào chiến trường, cầm súng và cầm bút, chiến đấu và sẵn sàng hy sinh, để lại những tác phẩm văn chương báo chí hữu ích cho công cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, nền tảng để một Việt Nam phát triển khang trang, vững chắc như hôm nay. Đó là niềm tự hào lớn của đội ngũ văn nghệ sĩ trong các cuộc chiến tranh vệ quốc.

Nhà văn làm báo ở chiến trường - 1

Các nhà văn liệt sĩ đã để lại không chỉ sự tiếc thương vô hạn mà còn là những khát vọng sáng tạo trao truyền cho thế hệ sau.

Trên các vùng đất Điện Biên, chúng tôi vẫn cảm nhận được dấu tích mà các nhà văn làm báo ở chiến trường thông qua lời kể của các nhân chứng lịch sử. Có nhà văn chính là nhân chứng mà tôi từng được tháp tùng lên Điện Biên. Đó là nhà thơ Lê Kim, ông nổi tiếng với những câu thơ bộ đội từng truyền tụng trong kháng chiến chống Pháp: “Ba thằng một cái chăn bông/ Nằm thẳng cũng khổ, nằm cong cũng phiền/ Đắp dọc thì hở hai bên/ Đắp ngang thì lạnh như tiền cái chân” (Nửa đêm). Đặc biệt, Lê Kim còn làm thơ tuyên truyền ngay tại trận địa: “Điện Biên Phủ bị ta vây chặt/ Các thứ Tây đều mất tinh thần/ Có thằng lính ngụy than thân/ Điện Biên Phủ biến thành âm phủ rồi” (Điện âm phủ).

Năm 2004, chúng tôi mời Lê Kim với tư cách nhân chứng lịch sử lên làm giao lưu truyền hình tại Điện Biên. Lê Kim dí dỏm mà sâu sắc, luôn biết chọc cười khán giả. Trên chiến hào Đồi A1, tôi từng trêu Lê Kim: “Ôi trời bác Lê Kim! Trông bác cứ như một tên lính Pháp vừa thoát ra khỏi hầm hào Điện Biên Phủ. Có lẽ nào câu chuyện chiến binh Nhật sống mấy chục năm ở đảo hoang không tin Nhật hoàng đã đầu hàng nay lại xuất hiện nơi hầm hào Điện Biên thế này!”.

Lê Kim nheo mắt cười nói mấy câu tiếng Pháp rồi giơ hai tay có vẻ đầu hàng khiến ai nấy cười vang. Lê Kim rất giỏi tiếng Pháp. Từ nhỏ ông đã được học hành chu đáo từ bậc tiểu học ở quê tỉnh Bắc Ninh đến trường Bưởi danh tiếng Hà Nội. Ông có vốn tiếng Pháp thành thạo và sau này còn sử dụng thêm tiếng Anh.

Lê Kim nổi tiếng từ rất sớm. Năm 1948, ở tuổi hai mươi, ông đã có tập thơ Đời cứ tươi xuất bản tại Quân khu Việt Bắc được lưu truyền rộng rãi trong các đơn vị bộ đội và nhân dân với các bài thơ cổ vũ lòng yêu nước và căm thù giặc. Chính các tác phẩm văn chương báo chí tại Điện Biên đã như những luồng đạn đại liên bắn thẳng vào cứ điểm giặc góp phần làm nên chiến thắng. 

Nhà văn Hồ Phương, trong các lần ông trò chuyện với chúng tôi mỗi khi nhắc đến những ngày làm báo Quân tiên phong trong kháng chiến chống Pháp đều dí dỏm nói: “Cánh tớ ngày ấy báo chí văn chương cũng hoắng lắm. Cỡ báo tường, báo liếp vậy mà đi lấy tin viết bài tiếng ta tiếng Tây cứ loạn xị. Các thủ trưởng cũng nể nang ra phết mà anh em chiến sĩ cũng tranh nhau đọc”. Tôi nhìn vào mắt thủ trưởng Hồ Phương thấy hình như có giọt nước đang rịn ra.

Hồ Phương nổi tiếng rất sớm với tác phẩm Cỏ non đã được đưa vào sách giáo khoa. Song một tác phẩm khác của ông cũng rất đáng kể, đó là Thư nhà viết năm 1948, khi chàng lính Hồ Phương mới 18 tuổi. Hồ Phương sau chiến dịch Điện Biên Phủ được điều về Tổng cục Chính trị với nhiệm vụ viết văn và tham gia thành lập Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Ông ở một mạch từ đó tới lúc nghỉ hưu năm 1993, gần 40 năm, cũng là người có thời gian công tác lâu nhất ở tạp chí.

Sau này, mỗi khi tới dịp Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam 21 tháng 6, nhà văn Hồ Phương luôn nhắc anh em ở Văn nghệ Quân đội đi đặt bài, viết chân dung, khơi gợi những kỷ niệm về các nhà văn làm báo ở chiến trường. Điều đó càng cho thấy, với thế hệ nhà văn chống Pháp và cả sau này nữa, văn chương báo chí luôn là món ăn tinh thần hết sức quan trọng.

Nhà văn Hồ Phương kể lại cho chúng tôi nhiều câu chuyện rất xúc động về thực tiễn chiến đấu hết sức gian khổ của bộ đội và đóng góp của thơ văn, báo chí trong đời sống tinh thần thời kỳ đó. Có những câu chuyện ông kể, hàng chục năm sau vẫn còn như mới mẻ để chúng tôi sáng tác thơ văn. Đó là bài thơ Chuyện ở dốc Pha Đin về anh lính hậu cần trẻ măng trước giờ nổ súng đã mát tay đón cặp trẻ sinh đôi: “Anh lính trẻ măng má lấm vệt nhọ nồi/ Chân tay như thừa ra bên người mẹ trẻ/ Bỗng trong đùm váy nâu tiếng oe oe em bé/ Hai người loay hoay cắt rốn cho em… Đặt hai bé sinh đôi trong lòng chảo xong xuôi/ Anh lính khẽ nhoẻn cười bên người mẹ trẻ/ Mấy cánh rừng ngoài xa bạt ngàn hoa ban nở/ Có cánh rơi vào đậu trên chảo anh nuôi”.

 Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, nhất là tại Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, thơ văn, nhất là báo chí luôn là một trong những thứ vũ khí rất quan trọng. Báo Quân đội nhân dân khi đó đã tổ chức xuất bản hàng chục số báo ngay tại chiến hào Điện Biên đã trở thành một trong những dấu mốc lịch sử của báo chí cách mạng Việt Nam.

Nhà thơ - nhà báo - liệt sĩ Thâm Tâm nổi tiếng với Tống biệt hành, ngay sau Cách mạng tháng Tám, Thâm Tâm tham gia văn hóa Cứu quốc, ở trong ban biên tập báo Tiên phong (1945 - 1946), sau đó ông nhập ngũ, làm thư ký tòa soạn báo Vệ quốc quân (tiền thân của báo Quân đội nhân dân).

Ông hy sinh ngày 18/8/1950 trên đường đi công tác trong Chiến dịch Biên giới tại bản Pò Noa, xã Phi Hải, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng. Khi nhà thơ Thâm Tâm hy sinh, nhân dân ở đây vô cùng thương tiếc đã cùng với đồng đội tổ chức mai táng nhà thơ tại nơi ông đã hy sinh.

Nhà thơ Vũ Cao, người bạn thân thiết của Thâm Tâm đã có bài viết kể lại sự hy sinh của nhà thơ rất chân thực và xúc động. Sự hy sinh của các nhà văn, nhà thơ làm báo ở chiến trường trong cuộc kháng chiến chống Pháp luôn là những ký ức sâu đậm còn mãi tới hôm nay. 

Năm 1950, nhà thơ Thâm Tâm đi Chiến dịch Biên giới tham gia làm báo tại mặt trận. Chính từ thực tiễn chiến trường, trực tiếp xuống tới từng tổ ba người, Tiểu đội, Trung đội mà nhà thơ - nhà báo Thâm Tâm đã có những tác phẩm văn chương báo chí khá đặc sắc phục vụ tại trận cho bộ đội như: Đại đội Kim Sơn (truyện ký, 1948); Chiều mưa Đường số 5 (thơ, 1948); Văn thơ bộ đội (tiểu luận, 1949).

Thâm Tâm không những là một nhà thơ có nhiều tác phẩm viết về bộ đội mà ông còn là một nhà báo, một Thư ký tòa soạn giàu kinh nghiệm. Những số báo Vệ quốc quân thời kỳ Thâm Tâm làm Thư ký tòa soạn vẫn được các nhà báo thế hệ sau ông đánh giá cao.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp mà đỉnh cao là Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đã có phần công sức của giới văn nghệ sĩ, báo chí với các tác phẩm trực tiếp viết về bộ đội, viết về cuộc kháng chiến trường kỳ gian khổ của quân và dân ta. Đội ngũ văn nghệ sĩ trực tiếp ra mặt trận trong đó có các nhà văn làm báo tại mặt trận đã cho thấy sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, nhiệt huyết và khát vọng cống hiến của văn nghệ sĩ với Tổ quốc, với nhân dân, với công cuộc kháng chiến. Đây cũng chính là một trong những nền tảng góp phần làm nên chiến thắng.

*

*    *

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, văn nghệ sĩ vào chiến trường rất sớm. Đã sớm hình thành một “binh chủng văn nghệ sĩ” tại chiến trường vừa trực tiếp cầm súng vừa trực tiếp sáng tác, đây là một điều đặc biệt của cuộc chiến tranh, một dấu ấn đặc sắc, để sau này nhìn lại chúng ta càng nhận thức rõ nét hơn, ý thức sâu sắc hơn về chiến tranh, để từ đó xây dựng vững chắc nền hòa bình với sự hiểu biết và trưởng thành của con người Việt Nam thời đại mới.

Nhà văn làm báo ở chiến trường - 2

Các nhà văn, nhà báo quân đội tại Trụ sở Tạp chí Văn nghệ quân đội sau năm 1975

Các nhà văn vào chiến trường đã cho thấy lý tưởng và nhân cách, nhất là trách nhiệm của trí thức với Tổ quốc, với nhân dân. Họ chiến đấu, sáng tác và hy sinh như một người chiến sĩ quả cảm trên tuyến đầu. Mỗi khi có một nhà văn hy sinh, chúng ta như cảm nhận được sự mất mát càng nhân lên gấp bội.

Vậy mà chúng ta đã có không ít các nhà văn hy sinh. Đó là, Nguyễn Thi (1928-1968); Lê Anh Xuân (1940-1968); Dương Thị Xuân Quý (1941-1969); Chu Cẩm Phong (1941-1971); Nguyễn Mỹ (1935-1971); Vũ Đình Văn (1951-1972);… đã cho thấy không chỉ sự khốc liệt của chiến tranh mà còn là những biểu tượng của giới văn nghệ sĩ - trí thức đã cống hiến toàn bộ tuổi thanh xuân - mạng sống của mình cho non sông đất nước. Đây chính là một trong những vẻ đẹp ngời sáng nhất của con người Việt Nam, của các nhà văn Việt Nam.

Trong các hoạt động kỷ niệm 80 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam; 80 năm ngày truyền thống Tổng cục Chính trị (22/12/1944 - 22/12/2024); 50 năm ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2025), chúng ta đã có dịp thống kê, tổng kết, đánh giá về đội ngũ và những cống hiến của đội ngũ văn nghệ sĩ với những tác phẩm xuất sắc về đề tài lực lượng vũ trang và chiến tranh cách mạng để ghi nhận và tri ân.

Nhà văn - làm báo ở chiến trường là một trong những nhiệm vụ mà họ luôn yêu thích và đề cao trách nhiệm. Nhà văn Nguyễn Thi xung phong vào chiến trường từ năm 1962, cùng các nhà văn, nhà thơ làm báo Văn nghệ quân giải phóng ngay trong lòng cuộc chiến. Tác phẩm Người mẹ cầm súng với nhân vật chị Út Tịch đã trở thành biểu tượng của cuộc chiến đấu anh hùng của quân và dân miền Nam.

Hàng loạt bút ký, ghi chép của Nguyễn Thi đều là từ thực tiễn cuộc chiến đấu đầy gian khổ, hy sinh của quân và dân miền Nam là những đóng góp rất lớn, là hình tượng tiêu biểu của nhà văn làm báo ở chiến trường. Nhà văn Nguyễn Thi hy sinh trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 tại chân cầu Chữ Y đã cho thấy bản lĩnh và phẩm chất cao nhất của người cầm bút, niềm tự hào của đội ngũ nhà văn chống Mỹ, sự khâm phục và tiếc thương của các thế hệ đối với Nguyễn Thi tới hôm nay.

Nhà văn Dương Thị Xuân Quý khi đang công tác ở báo Phụ nữ Việt Nam lúc con mới sáu tháng tuổi đã nằng nặc viết đơn tình nguyện vào chiến trường đầu năm 1968. Ở đó, các tác phẩm văn chương, báo chí nóng hổi đã đến với bạn đọc. Cũng tại chiến trường, trên đất Xuyên Tân, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, Dương Thị Xuân Quý đã hy sinh đúng vào ngày 8/3/1969 khi chị mới vừa 28 tuổi. Chúng tôi đã lặng người mỗi khi đứng trước tấm di ảnh đen trắng chụp tại chiến trường của nhà văn - nhà báo Dương Thị Xuân Quý.

Tôi rất nhớ nhiều lần nhà văn Nguyễn Chí Trung đã căn dặn, nhắc nhở chúng tôi, đại ý rằng chúng ta phải hết sức biết ơn tới sự chiến đấu hy sinh, tới máu xương của các anh hùng liệt sĩ trong đó có các nhà văn - chiến sĩ. Chúng ta phải hiểu sâu sắc rằng, để có được cuộc sống hòa bình, ấm no, hạnh phúc hôm nay là vô vàn trí tuệ và máu xương, nhất là xương máu của nhân dân đã dâng hiến trong các cuộc chiến tranh vệ quốc. Nhà văn phải đồng hành với nhân dân, phải đi thẳng vào giữa lòng cuộc chiến, trực tiếp cầm súng và cầm bút, sẵn sàng hy sinh bản thân mình để có được những tác phẩm phục vụ Tổ quốc và nhân dân. Là nhà văn, chúng ta phải luôn luôn khắc cốt ghi tâm điều đó.

Thế hệ chúng tôi, không chỉ rất thấm thía mà còn luôn tự nhủ với chính mình, với thế hệ mình, những đồng nghiệp đang từng ngày cầm bút ý thức trách nhiệm và tinh thần lao động sáng tạo để xứng đáng với những gì lớp cha anh đã tạo dựng lên bằng toàn bộ trí tuệ, niềm tin và cả xương máu nữa. Điều đó, phải luôn là nguyên tắc trong thực hành cuộc sống hôm nay.

Trên tinh thần ấy, mỗi khi nhắc đến các nhà văn làm báo ở chiến trường, những người trực tiếp cầm súng và cầm bút, những nhân chứng lịch sử mà các nhà văn đã gặp, những câu chuyện dường như chỉ có trong chiến tranh, những hồi tưởng về người đã hy sinh, các tác phẩm văn chương, báo chí đã trở thành dấu mốc, đó là những câu chuyện được kể về chiến tranh, trong chiến tranh và sau chiến tranh của người trong cuộc, về người trong cuộc.

Có câu chuyện đã trở thành huyền thoại, thành tên phố tên đường như cặp nhà văn - nhân vật: Nguyễn Thi - Út Tịch. Nhân vật chiến đấu hy sinh dũng cảm và nhà văn cũng chiến đấu dũng cảm hy sinh. Có nhà văn đã trở thành biểu tượng của chí khí anh hùng như nhà thơ Lê Anh Xuân, nhà văn Dương Thị Xuân Quý. Người còn sống và người đã khuất, thảy đều một lòng một dạ hướng tới Tổ quốc và nhân dân.

Khi các nhà nghiên cứu từ nhiều nơi trên thế giới nghiên cứu qua các trang văn, trang báo, nhật ký chiến trường của chúng ta đã phải kinh ngạc khâm phục con người Việt Nam trong chiến tranh ở những điều bình dị nhất. Chúng ta đã chiến đấu và chiến thắng những kẻ thù xâm lược hùng mạnh với vũ khí tối tân, hiện đại không chỉ bằng sức mạnh vật chất, mà cái chính yếu hơn, thẳm sâu hơn, đó là sức mạnh tinh thần, sức mạnh văn hóa từ cội nguồn dân tộc. Điều đó có được từ sự cống hiến của toàn thể chúng ta trong đó có đội ngũ nhà văn làm báo ở chiến trường.

Đất nước gian lao chưa bao giờ bình yên. Chúng ta, sau dấu mốc giải phóng miền Nam thống nhất đất nước 30/4/1975 đã hai đầu biên giới lại vang lên tiếng súng. Người chiến sĩ bỏ lại đó ngôi nhà còn lợp dở, người vợ trẻ vừa mới ấm hơi chồng, đứa con thơ mới chập chững bi bô tập nói để lên đường bảo vệ đất nước, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ tính mạng và của cải của nhân dân.

Ở khúc này đây, các nhà văn đã lập tức khoác ba lô lên đường đồng hành với bộ đội, cầm súng nơi các mặt trận biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc. Ở nơi đó, không chỉ thực tiễn của cuộc chiến đấu hấp dẫn ngòi bút các nhà văn mà cái cao hơn, lớn lao hơn, chính là thông điệp mà các nhà văn đưa ra từ các sáng tác văn chương, báo chí với người dân trong nước và cộng đồng quốc tế.  

Nhiều nhà văn từng ở chiến trường chống Mỹ lại tiếp tục có mặt ở biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc. Hơn ai hết, các nhà văn hiểu rằng, chỉ có thể từ thực tiễn cuộc chiến đấu dũng cảm của quân và dân ta, quân và dân nước bạn mới có thể khẳng định sự chính nghĩa của người chính nghĩa. Nhà văn, với phẩm chất và lương tri của mình, phẩm chất và lương tri đã được tôi rèn qua các cuộc chiến tranh vệ quốc đã cất lên tiếng nói trung thực nhất, mạnh mẽ nhất. Chính điều đó đã góp phần khẳng định rõ nét những đóng góp của các nhà văn làm báo ở chiến trường với lý tưởng, nhân cách sáng tạo chính là những điểm căn cốt nhất, phẩm chất cao quý nhất của mỗi nhà văn.

Chúng ta đang đứng trước ngưỡng cửa của kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc rất cần được trang bị đầy đủ tri thức, kỹ năng, nhất là niềm tin và khát vọng để mạnh mẽ bước về phía trước. Từ những hình ảnh đẹp đẽ; tấm gương hy sinh vì Tổ quốc, vì nhân dân; những cống hiến xuất sắc của đội ngũ văn nghệ sĩ trong đó có các nhà văn nhiều thế hệ làm báo ở chiến trường đã góp phần tô thắm hình ảnh bộ đội cụ Hồ vừa chân thực vừa sinh động. Chính điều đó đã và đang trở thành một trong những nền tảng vững chắc để người chiến sĩ chúng ta hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai

Tin liên quan

Tin mới nhất

Khai mạc Hội Báo toàn quốc năm 2026 - Ngày hội lớn của những người làm báo cả nước

Khai mạc Hội Báo toàn quốc năm 2026 - Ngày hội lớn của những người làm báo cả nước

Chiều ngày 19/6, tại Trung tâm Hội nghị - Biểu diễn TP Hải Phòng, Hội Báo toàn quốc năm 2026 - ngày hội lớn của những người làm báo cả nước đã chính thức khai mạc với chủ đề "Báo chí Việt Nam - Trung thành, Sáng tạo, Trách nhiệm trong Kỷ nguyên mới". Sự kiện nằm trong chuỗi các hoạt động thiết thực kỷ niệm 101 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam (21/6/1925-21/6/2026).

Hợp tác bảo tàng Pháp – Việt bước sang giai đoạn mới tại Điện Biên Phủ

Hợp tác bảo tàng Pháp – Việt bước sang giai đoạn mới tại Điện Biên Phủ

Dưới sự bảo trợ của Đại sứ quán Pháp tại Việt Nam, chương trình hợp tác bảo tàng giữa Bảo tàng Ký ức Chiến tranh Caen (Mémorial de Caen) và Bảo tàng Chiến thắng Điện Biên Phủ tiếp tục được triển khai thông qua chuyến công tác chuyên môn lần thứ hai diễn ra tại Điện Biên Phủ từ ngày 15 đến ngày 18 tháng 6 năm 2026.

Đại học Trà Vinh - Sáng tri thức, đẹp tình người

Đại học Trà Vinh - Sáng tri thức, đẹp tình người

Tôi đến với Trà Vinh hơn hai mươi năm trước, trong những đợt giảng dạy đào tạo từ xa theo chủ trương liên kết giữa Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và Sở Giáo dục và Đào tạo Trà Vinh. Ngay lần đầu đặt chân đến thành phố bên dòng Cổ Chiên, tôi đã có thiện cảm với nhịp sống êm đềm, những hàng cây rợp mát, những buổi sáng cà phê dưới tán dầu xao xác lá, với con người Trà Vi

Nhà báo - nhạc sĩ Tào Khánh Hưng: Từ

Nhà báo - nhạc sĩ Tào Khánh Hưng: Từ "Nhà báo chúng tôi" đến "Mắt sáng lòng trong"

Tiếp nối thành công của ca khúc "Nhà báo chúng tôi" – tác phẩm xuất sắc đoạt giải Ba trong cuộc vận động sáng tác văn học nghệ thuật về nghề báo nhân dịp kỷ niệm 100 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam (1925 – 2025); mới đây, Nhà báo - Nhạc sĩ Tào Khánh Hưng lại vừa trình làng một sáng tác đầy tâm huyết mang tên "Mắt sáng lòng trong" (phổ thơ Nguyễn Thiện). Được thử nghiệm đầy tá