Nghĩ từ phê bình văn chương

Quan hệ giữa sáng tác và phê bình đã từng là nỗi băn khoăn của nhiều người cầm bút. Bản chất của mối quan hệ này là sự tương tác tốt đẹp. Sáng tác là đối tượng của phê bình, nên có sáng tác mới có phê bình. Còn phê bình thì như bà mối giới thiệu sáng tác với công chúng. Thế thì phê bình và sáng tác phải là sự gắn bó thân thiết, ở mức độ cao phải là tri âm tri kỷ. Vậy vì sao trong thực tế lại có sự mâu thuẫn?

1. Chìa khóa phê bình văn chương?

Hơn hai chục năm trước tôi có đọc một bài viết của nhà thơ Phạm Tiến Duật kể chuyện nhà thơ Xuân Diệu đưa cho anh tập tiểu thuyết Mái Tây (Tây sương ký của Vương Thực Phủ có lời bình của Kim Thánh Thán do Nhượng Tống dịch) và nói rằng: Chìa khóa của phê bình văn chương nằm cả ở trong đấy. Là một người mới viết phê bình ở tỉnh lẻ, tôi thực sự mong muốn được biết chiếc “chìa khóa” ấy, nhưng không làm sao tìm được. Vì vậy, tôi cứ làm phê bình văn chương theo ý mình. Rồi cũng có bạn đọc, cũng được khích lệ. Nhưng khao khát tìm chiếc chìa khóa thần của phê bình thì tôi không hề nguôi ngoai. 

Chuyển về Hà Nội, khi có điều kiện gặp nhà thơ Phạm Tiến Duật (năm 2007, trước khi anh mất một thời gian), tôi có hỏi cụ thể về tập sách ấy, sao không thấy tái bản? Anh liền đọc thuộc lòng ký hiệu của tập sách ở Thư viện Quốc gia. Gần đây, tôi đã có trong tay toàn bộ lời bình của Kim Thánh Thán về tập tiểu thuyết Mái Tây.

Đọc lời dẫn và lời bình mấy chương đầu, tôi đã toan không đọc nữa, bởi chẳng thấy có gì đáng chú ý cả. Tôi nghĩ Xuân Diệu và Phạm Tiến Duật cũng chỉ tán vậy thôi. Nhưng rồi tôi lại nghĩ những vĩ nhân dù nói đùa cũng phải có một điều gì đấy. Và tôi lại đọc tiếp một cách kỹ lưỡng. Khi đọc xong, nghĩ kỹ tôi đã ngộ ra: Phải chăng Xuân Diệu và Phạm Tiến Duật đã tìm ra chìa khóa của phê bình văn chương, đó là phê bình văn chương không có chìa khóa nào cả? Ngẫm lại lời đại thi hào Nguyễn Du: “Mới hay không chữ chính là chân kinh” (Tài tri vô tự thị chân kinh) và danh nhân Trương Triều (sinh năm 1650, đời Thanh, Trung Quốc): “Có đọc được cuốn sách không chữ mới có những câu nói kinh nhân” (Năng độc vô tự chi thư phương khả đắc kinh nhân diệu cú).

Với phê bình văn chương thì không có chìa khóa cụ thể nào cả chính là chiếc chìa khóa vạn năng của phê bình. Đọc lại Kim Thánh Thán bình thơ Đường và bình các tập tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc, thì thấy đúng như vậy. Bình mỗi tác phẩm, Thánh Thán lại có một chìa khóa riêng, một phương pháp riêng. Vì vậy tôi rất nghi ngờ những sách dạy về phương pháp phê bình và phương pháp sáng tác. Đúng rồi, phương pháp là cách thức tiến hành để làm ra kết quả. Vậy lại có một phương pháp để sản xuất ra tác phẩm văn chương và phê bình văn chương ư?

Kim Thánh Thán bình thơ Đường và tiểu thuyết cổ điển, tôi không thấy ông bám vào tác phẩm là mấy. Cứ thấy ông nói đẩu đâu. Nhưng dù nói đẩu đâu nó vẫn có một sợi dây liên hệ và giống như đứng ngắm tác phẩm từ xa, nên có thể thấy đầy đủ, toàn vẹn hơn. Khác với các nhà phê bình của ta lâu nay cứ chăm chắm vào tác phẩm, phân tích mổ xẻ một cách quá kỹ lưỡng làm nát cả tác phẩm mà không rút ra được điều gì thật hữu ích. Phân tích tác phẩm chỉ để phân tích tác phẩm thôi. Thánh Thán phân tích tác phẩm là trong tương quan với cõi đời, phân tích một tác phẩm là để thấy nhiều tác phẩm khác.

Đọc Tùy Viên thi thoại của Viên Mai, thì hơi khác một chút. Viên Mai có những nhận xét rất cụ thể về từng nhà thơ và thơ của họ. Những nhận xét xác đáng rất riêng, tức là làm hiện rõ khuôn mặt từng người, đặc điểm thơ của từng người. Nhưng Viên Mai cũng không phân tích, mổ xẻ cụ thể, mà nhận xét bình giá tác phẩm trong một chỉnh thể trọn vẹn.

Đọc những lời bình của Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam, thấy hàm súc mang phong cách phương Đông, gần với những lời bình từ trong di sản của ông cha ta. Sau này Hoài Thanh bình thơ cũng không kiệm lời nữa, nên thường loãng hơn.

Không có chìa khóa của phê bình, thì đúng rồi. Nhưng phong cách phê bình thì vẫn có. Nhiều nhà phê bình văn chương của ta, tôi thấy phong cách không thật rõ. Và cả nền phê bình văn chương thì phong cách nghiêng về phương Tây hơn là giữ được cốt cách phương Đông. Có thể các phương pháp phê bình thì phù hợp với các nền văn chương phương Tây nhưng không phù hợp với các ngôi đền văn chương phương Đông. Phê bình còn lệ vào phương pháp thì không thể cất cánh lên được. Còn một tác phẩm phê bình hay tự nó đã chứa tất cả các phương pháp ở trong đó rồi. Có phải vậy chăng mà thế kỷ XX, sau Hoài Thanh với Thi nhân Việt Nam, chúng ta không có tác phẩm phê bình và nhà chuyên làm phê bình nào lớn nữa?

Nghĩ từ phê bình văn chương - 1

Ảnh minh họa

2. Đừng bắt ngựa phải có sừng

Quan hệ giữa sáng tác và phê bình đã từng là nỗi băn khoăn của nhiều người cầm bút. Bản chất của mối quan hệ này là sự tương tác tốt đẹp. Sáng tác là đối tượng của phê bình, nên có sáng tác mới có phê bình. Còn phê bình thì như bà mối giới thiệu sáng tác với công chúng. Thế thì phê bình và sáng tác phải là sự gắn bó thân thiết, ở mức độ cao phải là tri âm tri kỷ. Vậy vì sao trong thực tế lại có sự mâu thuẫn?

Thực ra, trong lịch sử không phải bao giờ sáng tác và phê bình cũng mâu thuẫn. Cũng như không phải bao giờ nó cũng gắn bó mật thiết! Nó giống như cái thiện và cái ác, vẫn song hành trên đời, mạnh yếu tùy lúc. Viên Mai (Đời Thanh, Trung Quốc) và Hoài Thanh động bút thì làm sang cho các nhà thơ, nên hai nhà phê bình này được các nhà thơ yêu quý. Còn nhà tư tưởng Ả Rập Amin Rihani (1876-1940) thì lại viết: “Nhà phê bình - đó là nhà văn không có khả năng viết tác phẩm, đem tiêu tốn cả cuộc đời vào việc phê phán các tác phẩm mới. Trong cái bộ lạc hiếu chiến đem lều bạt của mình đến căng ở biên giới của văn học này hiếm thấy nổi lên một cá nhân xuất chúng nào…”. Như vậy, mối quan hệ giữa sáng tác và phê bình trong thực tế lại tùy thuộc vào những nhà văn và nhà phê bình cụ thể.

Năm 1970, tập 2 tiểu thuyết Vỡ bờ của nhà văn Nguyễn Đình Thi ra đời đã không nhận được sự cổ vũ của giới phê bình. Có thể là tập 2 tác giả viết đuối tay hơn tập 1! Cũng có thể giới phê bình lúc ấy không có được cái nhìn độ lượng cảm thông với những khó khăn của sáng tác. Với vị thế của Nguyễn Đình Thi lúc đó là Tổng thư ký Hội Nhà văn nên ông không bị quy kết, nhưng các nhà phê bình đặt câu hỏi nghi ngờ phương pháp sáng tác của ông. Bây giờ, chuyện phương pháp sáng tác đã trở thành cũ kỹ, nhưng lúc ấy nó gắn liền với hệ tư tưởng, lập trường, quan điểm.

Trong một buổi nói chuyện với sinh viên khoa Văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội khi đó, nhà văn Nguyễn Đình Thi đã bực tức mà rằng: “Tôi mang đến cho mọi người một con ngựa, thì mọi người hãy xem nó có đẹp không, có khỏe không. Chứ đừng hỏi sao con ngựa này lại không có sừng?”. Chủ ý của nhà văn Nguyễn Đình Thi là tại sao các nhà phê bình không chăm chú đến những thành công hoặc chưa thành công của tác phẩm, mà lại đi đòi hỏi những điều vô lý. Sự đòi hỏi vô lý của các nhà phê bình là nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn giữa phê bình và sáng tác chăng? Theo tôi, điều này nhà văn Nguyễn Đình Thi đã có lý. Tác phẩm nghệ thuật cũng giống như một con người, được sinh ra đã là như thế, thì chúng ta hãy nhận xét bình giá trên thực tế đó, chứ không nên đòi hỏi người mẫu bây giờ phải thế này thế kia, còn chưa như thế thì không phải là phụ nữ! Bởi vẻ đẹp của mỗi người, mỗi tác phẩm nghệ thuật một khác, giống như trên đời có cả triệu loài hoa đẹp hương sắc tươi tắn và sinh động khác nhau. Câu chuyện này có thể giúp các nhà sáng tác và phê bình hiểu nhau: Không nên gò tác phẩm vào khuôn mẫu, kể cả sáng tác và phê bình.

Bây giờ thì về hình thức không có nhà văn, nhà phê bình nào đi gò tác phẩm vào khuôn mẫu. Vì thế, tất cả lại khá lung tung! Nhiều thứ được gọi là tác phẩm nghệ thuật nhưng lại phi nghệ thuật. Lại ở một thái cực mới chăng? Tất cả những sự lung tung ấy được lấy cớ là hiện đại. Và một số người làm phê bình đã chạy theo những cái lung tung ấy và coi đó là thành tựu hội nhập đổi mới. Phải chăng, đó là tri âm tri kỷ giữa phê bình và sáng tác? Thực ra thì đây lại là một kiểu khuôn mẫu mới mà các nhà “đổi mới” muốn gò giới văn nghệ theo một kiểu văn chương nghệ thuật, một kiểu văn hóa của nước ngoài. Sáng tác như thế này đã là “Tây” chưa, đã “đổi mới” chưa làm tiêu chí. Càng xa lạ với truyền thống, càng giống Tây thì mới là hiện đại? Thì cũng có khác gì đòi ngựa phải có sừng như nhà văn Nguyễn Đình Thi đã kêu lên từ cách gần nửa thế kỷ?

Đinh Quang Tốn

Tin liên quan

Tin mới nhất