Ký ức tương lai (Trích tiểu thuyết "Thương ngàn" của nhà văn Vĩnh Quyền)

Chuyến khảo sát hai tuần trong rừng khộp kết thúc với cuộc họp đoàn bên lửa trại. Nói đoàn theo thói quen chứ lúc đó nếu không tính con chó luôn theo sát chân tôi thì chỉ có tôi và Katy, cô tiến sĩ người Úc say mê nghiên cứu động vật hoang dã. Hai hôm trước ông trưởng đoàn phía Việt Nam đã ra Hà Nội cho kịp chuyến bay Nam Phi dự hội thảo chống buôn lậu sừng tê giác. Còn nài Y Bham thì từ trưa đã ngược suối tìm voi chuẩn bị chuyến thồ sáng mai về huyện Lăk. Mỗi lần đoàn dừng chân, voi Y Tun được thả rông tự kiếm cái ăn sau khi xiềng lỏng hai chân trước.

Ký ức tương lai (Trích tiểu thuyết "Thương ngàn" của nhà văn Vĩnh Quyền) - 1

Tiểu thuyết "Thương ngàn" - tác phẩm đoạt Giải Nhì (không có Giải Nhất) Cuộc thi sáng tác tiểu thuyết lần thứ nhất (2023-2025) của Thời báo Văn học nghệ thuật

Chẳng có gì nhiều để nói với một chuyến khảo sát thất bại, dù đã lội hầu khắp khu vực được đánh dấu bởi vệ tinh. Cho đến ngày cuối của chương trình chúng tôi chưa có cái may bắt gặp sói đỏ. Ba bẫy ảnh của Katy cũng vậy. Còn tôi chỉ là gã dẫn đường kiêm phiên dịch hợp đồng thời vụ, không can dự đề tài khoa học hay các thứ hành chính.

Vàng rơm, vàng nâu của tóc, của da dẻ đàn bà Úc, vàng lấm tấm đen bộ lông óng mượt của con chó đang chuyển nhẹ khi sẫm khi sáng theo ánh vàng hổ phách chập chờn của lửa, vàng chanh của trăng, phối thành bức ảnh gam vàng hoang dã trong trí tưởng tôi. Những ngón tay khẽ co duỗi nhưng tôi gần như bất động, máy ảnh nằm im trong túi da đặt trên đùi. Tôi biết sẽ không có được bức ảnh đang có trong đầu vì mọi thứ lung linh đẹp đẽ trước mắt sẽ khác sau tiếng click bấm máy.

Ý nghĩ đó dẫn tôi đến một ý nghĩ khác, là không biết Katy giữ lại hay đã xóa clip hôm trước.

Nài Bham chuyển vị trí một trong số bẫy ảnh như nỗ lực cuối ghi nhận sự tồn tại của loài được cho là tuyệt chủng mà quên báo với sếp Katy. Anh ta đặt nó hướng ra suối, buộc thêm túi muối vào gốc cây sát bờ, nơi phát hiện dấu chân thú uống nước. Thế rồi sáng hôm sau, sau bữa điểm tâm, Katy và tôi kiểm tra kết quả ngày làm việc cuối cùng. Hai chúng tôi chết ngây khi thấy máy bẫy trúng trường đoạn cô chủ tắm suối, phơi mở thân trần trong ráng chiều rực rỡ. Katy ngượng đến không phản ứng gì, tôi phải chủ động tắt bụp màn hình, nói vẫn không thấy sói đâu, rồi bước ra khỏi lều, châm thuốc hút.

Nếu có cơ hội trở lại, tôi mong được Kiên giúp đỡ, như Kiên đã làm rất tốt trong nửa tháng qua.

Katy nói giọng biết ơn cùng chút gì cố tạo không khí cần thiết của buổi làm việc. Tôi gật gù vẻ nghe nhận trong khi hai ngón tay vân vê ria mép, giấu nụ cười vu vơ. Katy chợt đỏ mặt, mắt thoáng ánh nghi ngại, như đoán được hình ảnh nào về cô đang phơi trong đầu tôi.

Kéo tôi trở lại cái gọi là cuộc họp, Katy hắng giọng: Không trở ngại ngôn ngữ trong tác nghiệp, Kiên đúng là mẫu người các đoàn khảo sát quốc tế cần.

Đổi tư thế, tôi châm thuốc hút: Katy quá lời rồi, tôi đã không giúp được gì chuyến đi này.

Nét hân hoan hiếm hoi hiện trên gương mặt thanh tú nhưng khắc khổ của người đàn bà tóc vàng tham công tiếc việc: Chưa đối mặt sói đỏ không có nghĩa nó không tồn tại ở đây, và chúng ta sẽ tiếp tục. Ngoài ra, với sự giúp đỡ của Kiên tôi thu thập được nhiều thông tin giá trị về rừng khộp Việt Nam.

Không biết phải nói gì, tôi lặng lẽ hút thuốc.

Katy đổi đề tài, thân mật hơn: Kiên học tiếng Anh ở đâu?

Đại học. Tôi đáp gọn, nghĩ thầm: Cô người Úc kia ơi, cô không thể biết ngôn ngữ ấy ý nghĩa thế nào với tôi đâu.

Lửa trại yếu dần, mềm ẻo như mảnh lụa chấp chới bay lên. Tiếng đập cánh của con chim lớn ngái ngủ trong lùm cây gần đó và bản hòa tấu the thé giữa dế, tắc kè, và ve rừng chung quanh cũng đang lúc cao trào làm tăng bầu khí trầm lắng giữa hai chúng tôi.

Vẻ mặt chờ đợi thật thà đến tội nghiệp của Katy khiến tôi hắng giọng, nói đôi điều.

Rằng tôi học tiếng Anh gần như ngay những ngày đầu trở lại đời dân sự sau năm năm làm lính trinh sát với mảnh lựu đạn cắm trong đầu, quà lưu niệm của tên trùm buôn lậu ma túy xuyên biên giới Việt-Campuchia.

Giờ nó vẫn ở đây. Tôi vỗ nhẹ lên chỏm đầu.

Vẻ mặt Katy lúc ấy xót cho vết thương của tôi. Điều đó khiến tôi cảm động, tiếp câu chuyện.

Thứ đầu tiên tôi thấy khi tỉnh lại là bóng trắng ngồi cạnh chân giường, phát liên tục lời rì rầm như cầu kinh. Vậy là mình chết rồi, mãi tuổi 23, tôi nghĩ. Đường nét, sắc màu rõ dần, tôi nhận ra mình còn sống, đang ở quân y viện và bóng trắng là cô gái trẻ trong bộ đồng phục y tá.

Cô reo lên khi bất chợt gặp mắt tôi, liến thoắng cho biết tôi đã hôn mê hơn một tuần, đến nỗi cô có thể vừa canh chừng cái xác sống là tôi vừa ôn thi tiếng Anh lớp đêm mà không bị nhắc nhở. Cả bệnh viện chẳng ai nghĩ tôi có thể sống sót.

Họ gọi tình trạng của tôi lúc ấy là gì nhỉ?

Katy nói một cụm từ nhưng tôi không hiểu.

Sau đó cô giải thích, cuối cùng cũng gợi ra được một khái niệm chuyên môn ngành y, chết lâm sàng.

Ký ức tương lai (Trích tiểu thuyết "Thương ngàn" của nhà văn Vĩnh Quyền) - 2

Tiểu thuyết "Thương ngàn" - tác phẩm đoạt Giải Nhì (không có Giải Nhất) Cuộc thi sáng tác tiểu thuyết lần thứ nhất (2023-2025) của Thời báo Văn học nghệ thuật

Tuần sau, cô y tá khoe ảnh chụp dịp bế giảng khóa tiếng Anh, trình độ A. Tôi lặng người nhận ra cô giáo.

Katy hơi chồm tới trước: Người yêu?

Tôi gật đầu: Ngay khi tự đi lại được, tôi ghi danh lớp tiếng Anh. Nôn nóng gặp người yêu thời trung học, tâm trạng căng thẳng như trước giờ nổ súng. Nhưng rồi trong mắt người đàn bà một con ấy tôi chỉ là kỷ niệm đáng yêu thời hoa niên.

Không cưỡng được hấp lực quá khứ, tôi nhận lời cuối tuần đến nhà cô giáo ăn cơm tối với tư cách đồng hương trên đất khách. Mỗi lần như vậy tôi phải chơi cờ với anh chồng nhạt trong khi chờ cô nấu nướng.

Tốt nghiệp khóa tiếng Anh ấy thì kết quả giám định y khoa vừa về tới. Tôi ra quân như một thương binh nặng.

Bỏ lại sau lưng mùa mưa và mối tình buồn ở Tây Nguyên, tôi vào Nam tìm sự thay đổi. Ký ức rừng bằng cách nào đó dẫn tôi đến phân hiệu Đồng Nai trường Đại học lâm nghiệp. Và bằng cách nào đó, cái lớp đêm Anh ngữ dọn đường cho tôi chọn chương trình đào tạo bằng tiếng Anh. Nhờ vậy, sau khi tốt nghiệp tôi có thể vượt qua kỳ thi giành học bổng toàn phần một chương trình nghiên cứu tại Úc. Vậy mà một năm sau tôi phải nộp đơn xin bảo lưu kết quả, lên đường về nước vì lý do sức khỏe.

Tôi dừng lại đốt nối thuốc lá. Katy nhìn tôi hút trong im lặng, không giấu được vẻ ái ngại. Bất ngờ cô nghiêng người đón điếu thuốc trên tay tôi, đưa lên môi rít khẽ, nhả khói thật chậm vẻ đánh giá hương vị, rồi vừa nhìn vào mắt tôi vừa thả nhẹ điếu thuốc vào đống than hồng hừng hực trước mặt. Đốm lửa nhỏ bùng lên, tắt trong khoảnh khắc, như chẳng có gì vừa xảy ra.

Tối nay Kiên hút hơn mười điếu rồi đấy. Katy nói giọng nửa khuyên lơn nửa trách buộc.

Hồi đáp của tôi không rõ tiêu cực hay tích cực khi ngồi hai tay bó gối, không động đến gói thuốc, nhưng rõ có một bất ngờ thú vị dành cho tôi. Rằng một gã rừng rú vẫn mềm lòng khi được quan tâm, vẫn thúc thủ trước sức độc đoán dịu dàng của phụ nữ.

Katy nói chuyện: Hai tuần qua tôi thấy Kiên băng rừng không biết mệt, hy vọng đã vượt qua giai đoạn khó khăn về sức khỏe?

Katy à, vấn đề của tôi thuộc lĩnh vực tâm trí chứ không về thể chất. Một năm qua tôi có cảm giác dần trở lại bình thường, tuy vậy bệnh tình vẫn có thể tái phát, bởi nguyên nhân ẩn đâu đó trong ký ức, hoặc chính nó là ký ức, thứ mà ta không thể can thiệp.

Tôi lại bất ngờ thấy mình mở lời, dẫu không trôi chảy, về điều chưa chia sẻ với ai, thậm chí tưởng không bao giờ.

Katy khẽ lắc đầu: Ký ức? Tôi nghĩ là tôi chưa hiểu điều Kiên muốn nói.

Lúc ấy tôi đã dừng lại, hụt hẫng như chiếc xe đột nhiên cạn nhiên liệu. Vẫn giữ tư thế ngồi bó gối, mắt tôi nhìn xuống bao thuốc đặt trên khúc củi khô. Katy nghiêng người rút một điếu khỏi bao, lóng ngóng châm, hút một hơi ngắn trước khi trao cho tôi.

Cám ơn Katy. Tôi nói và nhìn vào mắt người đàn bà Úc như muốn tìm ở đấy câu trả lời cho câu hỏi vừa nảy ra trong đầu: Lảng tránh hay dẫn Katy vào ký ức tôi, thứ ký ức ảm đạm?

Đôi mắt màu ve chai trong veo ấy nhắc rằng Katy có điểm chung với tôi, cũng sống trong rừng nhiều hơn ở nhà, là người có thể chia sẻ và cảm thông tôi hơn ai khác.

Con chó khịt mũi khi tôi định tiếp tục câu chuyện. Đang nằm kê mõm lên hai chân trước nó nhổm dậy, mắt long lanh, mũi hếch cao hướng đầu nguồn. Dường như mùi hương trong không khí chưa đủ xác tín, nó dịu lại, nhưng vẫn đứng với cái đuôi dài dựng cong.

Nó chưa đẻ lứa nào, phải không? Katy hỏi.

Tôi gật đầu, biết cô có thể đọc được tiểu sử con thú qua vẻ ngoài và những biểu hiện đặc biệt.

Katy tiếp: Nghe Kiên gọi nó "Lài", người Việt đặt tên người tên thú phần lớn gắn ý nghĩa nào đó, đúng không?

Đúng vậy, tôi đáp, nhưng với con Lài này thì không chắc. Tên nó được gọi bởi chủ cũ, một người Mông từ Lai Châu di cư vào Tây Nguyên, lúc ấy nó tầm ba tháng tuổi. Lài, có thể là tên riêng, cũng có thể là tên giống. Tôi được biết "lài" là cách nói trại âm "lai" trong tiếng Việt, chỉ sự phối giống giữa chó săn của đồng bào dân tộc với chó rừng. Giống này giờ hiếm, Katy biết đó, chó rừng gần như tuyệt chủng.

Lúc ấy con Lài vẫy đuôi, mũi hướng thượng nguồn, hít lấy hít để, rồi rít lên bồn chồn.

Chắc là nó đánh được hơi voi Y Tun đang về. Tôi nói.

Katy nhìn con Lài, khẽ lắc đầu: Tôi không nghĩ vậy. Nó bắt được mùi đực, nhìn giữa hai chân sau của nó thì biết, cuối xuân mà, khởi mùa động dục.

Không nhìn con Lài mà nhìn vào Katy, tôi nghĩ thầm chẳng là chuyên gia cũng đoán được đã lâu cô không làm chuyện ấy.

Rồi nhanh chóng thoát ám tượng "chuyện ấy", tôi bảo Katy biết không, hôm họp báo ở Buôn Mê Thuột, hầu hết khách tham dự là dân ngoại đạo động vật học, bất ngờ nghe cụm từ "sói hoàng hôn" trong tiếng Việt. Thậm chí sau đó người quen hỏi liệu tôi có dịch nhầm.

Vậy hả? Katy cười vui: Thời sinh viên, lần đầu nghe "the dusk wolf" tôi cũng cần được giải thích, rằng sói đỏ hoạt động tích cực nhất vào lúc hoàng hôn nên các nhà động vật học tiền bối đã định danh như thế.

Họ lãng mạn chán.

Tôi nói rồi hỏi: Katy cũng lãng mạn chứ?

Ồ, tôi không biết nữa. Katy cười khẽ, nghiêng người, với lấy chai Blue khỏi ba-lô đặt bên cạnh.

Chúng tôi nhấm nháp rượu trong im lặng cho đến lúc Katy lặp lại câu hỏi về yếu tố ký ức trong tình trạng sức khỏe của tôi, khiến tôi phải gián đoạn chương trình nghiên cứu.

Có lẽ phần trả lời của tôi khá mông lung, nhưng không thể làm khác.

Tôi chọn lâm nghiệp khi vào đại học, chẳng phải cân nhắc gì. Dễ hiểu vì nó kết nối với tuổi thơ con trai người nhận khoán rừng kinh tế mới, và cả quãng đời lính trinh sát sau đó nữa. Có thể nói tôi thuộc đường ngang lối tắt rừng biên giới Việt-Căm ở Tây Nguyên như thuộc bàn tay mình. Học nghề lâm tôi có thể trở lại không gian quen thuộc đó. Miếng tôi ăn ngon nhất là thịt rừng không ướp gia vị, nướng nửa sống nửa chín, thị dân gọi nướng mọi. Ngụm tôi uống ngon nhất là rượu đồng bào dân tộc chưng cất từ các loại rễ cây trên hai nghìn mét cao quanh năm ngậm sương giá. Chẳng biết từ lúc nào trong tôi hình thành tâm lý ngại giao tiếp xã hội, chỉ thấy thật sự thoải mái, an toàn khi được một mình trong rừng.

Nói cách khác, theo học ngành lâm là tôi chọn cho mình một nghề tương lai nối dài quá khứ. Mọi chuyện có vẻ trôi chảy nếu tôi dừng lại ở đấy.

Thế rồi tri thức đại học mang đến cho tôi cái giật mình muộn. Rằng lâu nay "đứa con của rừng", mà tôi thích thú tự xưng, không thật sự hiểu, thậm chí nhìn nhận sai về "bà mẹ rừng". Những trang văn khoa học lâm sinh, những bộ phim tài liệu về thế giới tự nhiên dần gieo cấy vào tôi những rung động trữ tình chưa từng có.

Rung động ấy dẫn tôi đến chương trình nghiên cứu sau đại học tại Úc, chuyên ngành bảo tồn thiên nhiên. Vào học phần thực địa, với tiểu sử cựu trinh sát biên phòng, tôi được gửi đến một biệt đội chống tội phạm săn bẫy thú hoang dã.

Hào hứng được tuần lễ thì em trai tôi gửi email báo tin dữ ở nhà. Cha tôi bị bắt khi dẫn đường một nhóm người trang bị cưa xăng xâm nhập địa phận khu bảo tồn thủy tùng.

Được biết đến từ thời kỷ băng hà, thủy tùng nay chỉ có mặt tại nam Trung Quốc, Lào và Việt Nam với tình trạng nguy cấp. Việt Nam sở hữu hơn hai trăm cây, trong đó có những cây trên 700 năm tuổi, tập trung tại hai huyện Ea Hleo và Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk.

Chủ mưu thú nhận lặn lội từ Hà Nội vào Tây Nguyên săn thủy tùng vì tin lời đồn đó là cây thuốc trị được bách bệnh, kể cả ung thư. Còn cha tôi khai làm vậy vì cần tiền chạy chữa ung thư cho mẹ tôi.

Tối hôm đó tôi không ngủ được, vừa hờn trách vừa xót thương người cha thất học suốt đời lam lũ, rồi giận bản thân vô dụng, chưa giúp được gì cho cha mẹ và em.

Khoảng bốn giờ sáng, cơn đau khủng khiếp bùng phát từ vết thương cũ, đúng hơn là từ mảnh lựu đạn ghim ở vỏ não mà các bác sĩ đánh giá hãy để yên vậy an toàn hơn phẫu thuật lấy bỏ, vì có nguy cơ gây bại liệt.

Nghĩ đấy là hậu quả một đêm căng thẳng dằn vặt soi chiếu đa chiều cái tình cảnh mâu thuẫn mỉa mai không thể chia sẻ với ai của mình, tôi dùng một viên paracetamol kèm hít thở sâu với lời nhủ thầm "mọi chuyện rồi sẽ ổn", lặp lại cho đến lúc thiếp đi.

Hôm sau, thay vì xin nghỉ ốm tôi theo biệt đội vào rừng thực hiện nhiệm vụ phá dỡ, thu gom bẫy và cứu hộ thú mắc bẫy.

Buổi sáng trôi nhẹ nhàng cho đến khi điều thầm lo xuất hiện. Cơn đau đầu trở lại, âm ỉ rồi tăng cấp. Mắt cay hoa nắng, bước chân ngắn dần, tôi tụt lại phía sau đồng đội, cuối cùng đành bỏ cuộc, ngồi thở dốc trong bóng râm tán cây bao-báp. Mở bi-đông nước uống thêm viên paracetamol, tôi liên tục lặp thầm lời tự quyết trước khi ngất lịm, rằng tôi nhất định thuộc về đội quân bảo vệ rừng.

Không rõ bao lâu sau đó, tôi mơ hồ thấy Tâm, em trai mười sáu tuổi của tôi ló ra từ rặng gumbi, loài cây thấp mọc ven suối, đảo mắt cảnh giác rồi nhanh nhẹn đặt bẫy dây. Chính tôi truyền nghề cho nó trước ngày lên đường nhập ngũ.

Vào lính tôi được no đủ hơn nhiều, những ngày đầu đặc biệt ưa thích hương vị đồ hộp mới mẻ. Chẳng bao lâu nó khiến tôi phát ốm, và không chỉ mình tôi. Vậy là lúc rỗi tôi lang thang vào rừng, không với bẫy dây mà khẩu CKC bắn tỉa, kiếm thịt tươi cho tiểu đội, gọi là "cải thiện". Tôi giỏi việc này đến mức anh em gán biệt danh "Thợ Săn".

Tôi thấy tôi bắc hai tay làm loa gọi lớn: Tâm ơi, nghe lời anh, dừng lại…

Thực ra chỉ là chuỗi âm thanh ú ớ tức nghẹn trong lồng ngực, cũng có thể là trong hộp sọ đang muốn nổ tung.

Không nghe và không thấy tôi, Tâm lẳng lặng chui biến vào bụi gumbi sau khi xong việc.

Bất chấp cơn đau, tôi gượng đứng lên, từng bước loạng choạng rời bóng râm cây bao-báp, quyết gỡ cái bẫy của đứa em trai.

Rồi tôi ngã sấp, vụt thoát cơn mê sảng nhức nhối ảo giác.

Lát sau, qua bộ đàm tôi báo tình cảnh tồi tệ của tôi với đội trưởng.

Trong lúc chờ được cấp cứu, tôi nằm trên mặt đất rừng khô khốc rực nắng, nhớ những lần từ đơn vị trinh sát về thăm nhà tôi vui gặp bữa cơm có thịt mà mẹ không phải bỏ tiền chợ. Dân nghèo vùng kinh tế mới chúng tôi gọi 'miếng giữa rừng'. Rồi sự thể thay đổi khi tôi vào đại học. Từ cái nhìn con chim là miếng thịt tươi biết bay đến cái nhìn phân loài quý hiếm, tôi không thể hình dung được việc con người có thể ăn thịt những loài chim đặc hữu Việt Nam, được các nhà khoa học vinh danh 'báu vật quốc gia', như khướu Ngọc Linh chẳng hạn.

Một lần, trong bữa ăn gia đình, tôi lên tiếng bảo em trai ngừng sử dụng bẫy dây, thứ bẫy cực kỳ đơn giản nhưng rất hiệu quả, có thể tóm từ sóc bé mọn đến voi khổng lồ. Nói cách khác đó là bẫy mù, tuyệt diệt chẳng chừa loài nào. Đặt bẫy dây là vô tình gây tội ác. Cả nhà ngừng đũa nghe tôi, rồi lẳng lặng chia phe. Ba tôi và Tâm cúi mặt, gắng gượng nhai nốt đĩa chim nướng trong khi tôi và mẹ ăn rau. Mẹ làm vậy là vì chính tôi chứ không phải vì lời của tôi. Tan nát bữa cơm đoàn tụ.

Chuyện đến đấy thì tôi nghẹn lời nhìn mãi xuống than hồng, giấu dòng nước mắt hiếm hoi.

Lúc ấy tôi tin đôi mắt xanh tin cậy của Katy trong bóng rừng đêm đã dẫn dụ tôi bước ra khỏi tôi, ngoảnh lại đời mình, nửa khinh bạc nửa xót xa, và cất thành lời.

Sau một lúc im lặng bối rối, Katy xích lại gần hơn, luồn mấy ngón tay dài vào tóc tôi, mân nhẹ lên sẹo ở chỏm đầu, mà đôi khi nó là vết thương chưa lành hẳn, cũng là ngòi nổ khơi dòng ký ức cay nghiệt nơi tôi.

Ổn rồi, vậy là ổn rồi… Katy thì thào.

Ngừng một lúc, cô tiếp: Chúng ta chẳng thể thay đổi ký ức thương tổn. Nhưng tình yêu cuộc sống sẽ giúp chúng ta làm nên ký ức tương lai, thứ ký ức có khả năng xoa dịu đau buồn trong ký ức quá khứ…

Tiếng rung ngân của con dế bụi đâu đấy át lời cám ơn khẽ của tôi.

Chúng tôi rời nhau khi tiếng tru dài hào sảng bất đồ cất lên hướng thượng nguồn.

Katy bàng hoàng: Sói đỏ!

Con Lài run bắn, rít nhắng rồi phóng vụt theo mùi đực.

Tôi đứng lên, dợm chân.

Níu tôi, Katy khẩn thiết: Để chúng tự do…

*

Tình yêu của Katy chắp cánh cho tôi trở lại Úc để tiếp tục chương trình nghiên cứu còn dang dở. Để rồi khoảng một năm sau, tôi chứng kiến ​​"Mùa hè đen". Những đám cháy lớn bùng phát trên nhiều cánh rừng ở New South Wales và nhanh chóng lan sang các bang khác.

Ngày nào truyền hình cũng tràn ngập hình ảnh những cánh rừng cháy ngùn ngụt, chim muông cuống cuồng tìm đường thoát nạn. Xác chúng ngổn ngang trước ống kính nhà báo, xem không cầm được nước mắt. Tổng ước tính một tỷ cá thể động vật hoang dã bị thiêu sống, vài tỷ khác bị tác động nghiêm trọng. Khói chứa bụi mịn PM2.5, gồm độc tố carbon, sulfur và nitrogen, cũng có thể đoạt mạng các loài sinh vật nhỏ bé ở cách đám cháy đến năm mươi cây số. Giới khoa học dấy lên lo ngại nhiều loài động thực vật bản địa có thể đã bị tuyệt chủng trong biển lửa lần này.

Học viên chúng tôi thành lập đội tình nguyện sáu người, tự tìm hiểu kỹ năng cứu nạn hỏa, tự trang bị bảo hộ và gửi đăng ký phục vụ đến cơ quan chức năng địa phương. Ba tuần sau, vào giai đoạn cao điểm cháy rừng, vẫn chưa nhận được điều động. Một ngày cuối tháng 11.2019, tôi thuê xe bán tải, chất đầy những can nước mát, thuốc mỡ neosporin trị vết bỏng, lồng nhựa, khăn tắm, sữa tươi và một mình lên đường. Tôi quyết định thực hiện chuyến đi thiện nguyện mà không có Katy. Lúc đó cô đang mang thai đứa con đầu lòng của chúng tôi được hai tháng.

Tám giờ sau, tôi rờn rợn khi cho xe phóng vào bóng râm của quầng mây đỏ xám che nửa gầm trời. Thêm một giờ nữa, tôi bắt đầu chạy xuyên những rừng cây cháy đen trùng trùng. Lửa đã tắt, mặt đất dày xốp lớp bụi tro không ổn định hầm hập nóng, và rải rác những cột khói còn bốc lên vật vờ, lãng đãng. Cảm giác một mình lún sâu vào hỏa ngục khiến tôi tự mâu thuẫn: vừa ước có Katy bên cạnh vừa mừng cô đã không bị cuốn vào chuyến đi chết chóc.

Vào vùng lõi, thỉnh thoảng gặp cảnh người dân cứu giúp những con thú sống sót lê thân ra được vệ đường. Tôi tiếp tục lái xe cho đến khi gặp đám cháy thật sự đầu tiên.

Đội cứu hỏa chuyên nghiệp xem chừng thấm mệt sau hơn hai tháng lăn xả vào cuộc chiến không cân sức với thần Vulcan.

Nhìn trang phục bảo hộ và những gì tôi đã chuẩn bị, đội trưởng hài lòng trước lời đề nghị được chia sẻ của tôi. Ông trao vòi nước nhưng tôi lắc đầu. Vừa mang ba-lô tôi vừa nói lý do tôi có mặt ở đây. Ông ngẩn một giây rồi hiểu. Đội cứu hỏa phải cật lực chặn đường đi của lửa, trong khi trong cánh rừng đang cháy kia còn bao nhiêu sinh linh cần được cứu.

Đội trưởng lệnh ba nhân viên cùng lúc bắn nước tập trung vào một vị trí. Tôi lao theo. Thác nước ấy vừa khống chế tạm thời sức nóng khủng khiếp vừa đẩy tôi trôi qua bên kia tường lửa.

Tôi đã thích thú nghe bà Bộ trưởng môi trường Sussan Lei phát biểu trên đài truyền hình ABC về thái độ cần có khi cứu hộ động vật hoang dã trong thảm họa cháy rừng quốc gia. Rằng tất cả các loài đều quan trọng như nhau để được cứu, không nhất thiết là loài quý hiếm hay đáng yêu. Lúc này và nơi góc rừng này tôi không phải cân nhắc tính bình đẳng ấy vì gặp toàn gấu túi koala, loài tôi đặc biệt thương quý. Có lẽ trước đó các loài thú nhanh nhạy khác như kangaroo, hươu, nai… đã kịp phóng đến những khoảnh rừng chưa bén lửa. Chính vẻ đủng đỉnh ngây ngô đáng yêu của koala đã hạn chế khả năng thoát hiểm. Thay vì lánh càng xa ngọn lửa càng tốt, chúng leo lên cây gần nhất, ngồi thu lu trông như quả cầu. Thật đau lòng chứng kiến cảnh những con koala xấu số ôm chặt thân cây, cùng cháy rồi cùng rơi rụng.

Leo từng cây, gỡ từng con koala còn sống, trùm khăn ướt, bế ra khỏi vành đai lửa với sự hỗ trợ của những vòi phun nước 'mở cửa', trao từng con cho nhóm khách qua đường chăm sóc, rồi tôi tất tả quay lại. Ban đầu còn đếm thầm, ba con… năm con… sau đó không nhớ bao nhiêu. Để rồi kết thúc bởi một cành cây cháy đổ quật trúng vào chân trái. Anh lính cứu hỏa kịp lao vào cõng tôi ra xe cứu thương chờ sẵn gần đấy.

Điều bất ngờ là họ đặt tôi vào thùng xe dành cho bầy koala được giải thoát trước đó. Những đôi mắt hiền ngơ ngác nhìn nhau rồi xúm lại nhìn vào mắt tôi, những bàn tay bé nhỏ bỏng rộp rướm máu quờ quạng cố chạm khẽ vào tôi khiến tôi tin chúng nhận ra tôi là ai, bày tỏ lòng biết ơn và muốn chăm vết thương cho tôi theo cách của chúng. Lúc ấy tôi mừng thấy có cơ hội đếm đi đếm lại bầy koala, như kẻ bần cùng đếm mãi món tài sản khiêm tốn của mình. Cũng là tài sản chung trái đất này. Mười ba… Mười ba… Nước mắt tôi ứa ra làm rát da mặt nứt nẻ. Lúc ấy, lời Katy vẳng quanh tôi như điệp khúc opera.

Chẳng thể thay đổi ký ức thương tổn, nhưng tình yêu cuộc sống có thể làm nên ký ức tương lai, thứ ký ức xoa dịu đau buồn trong ký ức quá khứ...

Tin liên quan

Tin mới nhất

Phát động Giải thưởng toàn quốc về Thông tin đối ngoại Lần thứ 12

Phát động Giải thưởng toàn quốc về Thông tin đối ngoại Lần thứ 12

Ngày 17/4/2026, Hội nghị Báo cáo viên Trung ương Toàn quốc tháng 4 (diễn ra tại TP.Hồ Chí Minh) do Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương phối hợp với Đảng ủy Công an Trung ương tổ chức đã thực hiện nghi thức “Lễ phát động Giải thưởng toàn quốc về Thông tin đối ngoại lần thứ 12 năm 2026”.

Mỹ đạo trong chân dung nàng Shunkin của Tanizaki Junichiro

Mỹ đạo trong chân dung nàng Shunkin của Tanizaki Junichiro

Tanizaki Junichiro (1886 -1965) là “nhà văn tôn thờ cái đẹp và tình yêu”. Tên tuổi Tanizaki gắn liền với chủ nghĩa duy mĩ Nhật Bản (yuibishugi) thời cận hiện đại, song hành cùng với các tên tuổi khác cùng chí hướng như Nagai Kafu, Kinoshita Mokutaro,…

Tuyên bố chung Việt Nam-Trung Quốc

Tuyên bố chung Việt Nam-Trung Quốc

Tuyên bố chung giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về việc tiếp tục làm sâu sắc Quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện, thúc đẩy xây dựng Cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam-Trung Quốc có ý nghĩa chiến lược ở mức độ cao hơn trong thời kỳ mới, theo Báo Nhân dân.

Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cốt lõi về phát triển văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cốt lõi về phát triển văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Sáng 15/4, tại Hà Nội, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội đã tổ chức Hội thảo khoa học quốc gia “Phát triển văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới: Lý luận và thực tiễn tiếp cận từ Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị” với sự tham gia của đông đảo các nhà khoa học, nhà quản lý văn hóa, chuyên gia, giảng viên, văn nghệ sĩ và đại diện nhiều cơ quan, cơ sở đào tạo, viện nghiên c

Lấy ý kiến nhân dân vào Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI

Lấy ý kiến nhân dân vào Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI

Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026 - 2031 sẽ diễn ra từ ngày 11 đến 13-5-2026 tại Thủ đô Hà Nội. Đây là sự kiện chính trị - xã hội có ý nghĩa quan trọng diễn ra ngay sau thành công của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI, Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031.