“Ký ức BÃO”, phù sa tâm hồn Lương Duy Cường

Tôi có chuyến đi miền Trung, vào đúng dịp trời như rút ruột để nắng, đến nỗi chỉ cần thêm một giọt bỏng, sẽ vỡ cả thinh không. Để mấy ngày sau trở về nhà, trong giấc mơ, quờ tay, tôi vẫn chạm vào bỏng rát. Người ta nói, trước những cơn thiên tai, nắng thường đi trước để dọn đường. Trước đó ít bữa, tôi đã kịp chan vào hồn bút kí “Ký ức BÃO” (NXB Hội Nhà văn, 2025) của luật gia, nhà báo Lương Duy Cường.

Anh là người giỏi về chuyên môn, anh viết về bão rất “bão”, bởi anh chính là một mảnh văng ra từ những cơn bão kí ức. Để những người Quảng Bình là bạn cùng trang lứa, đọc anh, họ thấy được những ngày đã qua. Khi những day dứt khôn nguôi về bóng ngày cũ, được hóa thân thành con chữ, Lương Duy Cường mới bớt nhức nhối. Nhưng quý hơn cả, là nhiều độc giả soi vào chữ của anh, lại gặp được chính mình, bên thềm tháng năm. Chỉ điều giản dị ấy thôi, đã là động lực, hối thúc người cầm bút như Lương Duy Cường.

Vốn là cựu sinh viên Văn khóa VI - Đại học Tổng hợp Huế, lại kinh qua sự nghiệp báo chí, nhưng chất văn vẫn riết róng, tựa máu thịt nuôi anh từng ngày. Trong bút kí này, tôi đã chạm tới bức tranh phong cảnh tâm hồn dữ dội của Lương Duy Cường. Ngòi bút sắc sảo của anh đã ghi lại vết xước thời gian bằng một ngôn ngữ giản dị nhưng khả năng dung chứa cảm xúc là vô biên. Tôi dùng từ “ghi lại” vì sự thật luôn hiển hiện trong hồn chữ - đặc trưng của thể kí, tuy nhiên anh đã có một đời sống khác, trong sự sáng tạo không giới hạn của một kẻ luôn thấy mình khát thèm những phương trời viễn mộng. 

Không phải ngẫu nhiên mà con sông Gianh, chứng nhân của nỗi tủi buồn phân ly và khát vọng hàn gắn trong lịch sử dân tộc, trở thành nhân vật trong Ký ức BÃO của Lương Duy Cường. Đó là quê hương, là mẹ, là hợp lưu quá khứ, hiện tại và tương lai của anh. Ở một nghĩa khác, con sông còn là dòng chảy văn hóa của một cộng đồng, một vùng miền dân cư. Sông Gianh vì thế luôn thao thiết chảy trong tim đứa con Quảng Bình sống xa quê nhà. Trong tầng diễn dịch khác, sông Gianh ẩn dụ cho dòng chìm trôi, nhưng phù sa văn hóa lại tái hiện đa thanh, đa diện, lớp lang. Sông là cội nguồn đạo lý, để cội nguồn vuột qua, ấy là sự mất và vô ơn, trở về để mặc nước sông tẩm tưới bụi bặm là là một thứ nghi lễ thanh tẩy. Ký ức BÃO giá trị ở điều này.

“Ký ức BÃO”, phù sa tâm hồn Lương Duy Cường - 1

Bìa tập bút ký "Ký ức BÃO".

Ký ức bao giờ cũng thế, thường dậy lên sau lớp bụi thời gian, khi con người đã đủ đầy hoặc ở vào cảnh thanh bần. Khi đủ, người ta khoác cho ký ức cái gọi là “ôn cố tri tân”, lúc deo dắt, ký ức lại là chiếc gối êm, để úp mặt vào mà tự hờn xót hay lấy ngày xa ngái mà thấm lệ mặn. Những cơn thiên tai đã đẩy Lương Duy Cường vào cái đói, cái đói đã bứt anh khỏi mảnh đất quê nhà để bươn vào cuộc mưu sinh mà lập nghiệp nơi xa xứ. Sài Gòn, quê hương thứ hai của anh, nơi mỗi đêm, tỉnh dậy trong căn phòng ấm, anh thấy thiếu thốn một cơn gió quất chảy máu da thịt, vệt nắng nỏ khô người. Sài Gòn ân tình đã cưu mang gia đình anh, nhưng vẫn không lấp đầy khoảng trống 10 năm xa ngôi làng Lệ Sơn nhỏ bé mà quật cường. 

Nấm tròn vùi xương cha nằm lại nơi chôn nhau như một quy luật, một nhưng nhức trong lòng, 10 năm xa, chỉ cúng vọng ông bà tổ tiên và cha bằng những giọt mặn nuốt thầm - một niềm thăm thẳm khôn khuây. “Cha tôi khuất núi sớm. Cơn đột quỵ kéo dài hàng năm trời của cha khiến gia đình đang bề thế bỗng khánh kiệt. Túng bấn, mẹ tôi bán con heo cuối cùng rồi khăn gói đưa đàn con vào Nam mót thuê, lay lắt nuôi con ăn học”. Anh vẽ chân dung mẹ bằng cơn bạo bệnh và sự ra đi của cha. Tạc mẹ anh can trường trong nỗi cô đơn, lần hồi nuôi đàn con khôn lớn. Hơn cả niềm cảm phục và biết ơn. Cơn bão đời đã trao sinh mệnh cho chữ anh. 

Rồi Tết năm ấy, gia đình anh trở về trong vòng tay người làng.. Người làng Lệ Sơn đùm bọc, tặng cho gia đình anh cái Tết yêu thương, bù đủ cho 10 đêm trừ tịch dưới bầu lộng lẫy Sài thành mà ngóng vọng vòm quê thăm thẳm. Xa xôi địa lý là một cơ hội để anh hiểu hơn 2 tiếng “người làng”. 

Mẹ là quê hương, là tuổi thơ Lương Duy Cường. Vin cành phượng hồng, cứ thế anh đi trong dòng tự sự về tháng ngày chân trần bỏng rát trên những nẻo đường thơ ngây. Từ nỗi nhớ tuổi thơ, đặt ra những vấn đề nhân sinh hàng ngày, ấy chính là chất văn ngào trộn trong ngòi bút sắc của nhà báo Lương Duy Cường.

Thế hệ Lương Duy Cường đã có rất nhiều những chàng trai, cô gái ra trận. Cha anh cũng trở về từ cuộc chiến và di chứng nặng nề đã trở thành căn bệnh quái ác trong cơ thể một người con của ông. Anh nhắc tới chiến tranh, đôi khi như một trò ú tim mà hiểm nguy trộn với thú vị. Thì ra, ở nơi mà thiên nhiên rất khoảnh với con người ấy, thì con người lại hóa giải bằng sự lạc quan, chắt chiu sự sống từ cái chết. “Chiến tranh ác liệt, mẹ suốt ngày đêm bám trụ ở xí nghiệp dược để sản xuất thuốc chuyển ra chiến trường. Lũ trẻ chúng tôi thì đợi con nước lên là lao ra sông Gianh, kiên nhẫn ngồi hóng hàng cứu trợ là những bao bột mì hoặc gạo, nước mắm đóng viên, thảng hoặc sẽ theo dòng nước từ ngoài cửa biển lập lờ trôi trên thượng nguồn. Thích nhất là khi vớt được bao bột mì hoặc bao gạo, vì ngoài cái ăn, chúng tôi còn có bao vải để may quần áo hoặc bao nilon đê làm áo mưa, rồi che chắn mái nhà ngay sau khi B52 tàn phá”.

Sông Gianh, nơi anh đã có chuyến đi để đời với ông Bường dân Kẻ Nuốc, để thấm vào mình phận người được con sông bao dung “họ rất hào hiệp nhưng lênh đênh sông nước không một miếng đất dung thân”. Cũng con sông ấy, mang nước trong bão đổ, nhấn chìm bao kiếp người. “Bác tôi mất…Cả nhà anh tôi ngồi cầu nguyện mong nước rút để tiễn bác đi. Nhưng nước lên, quan tài bác nổi lên đến nóc nhà… Gia đình anh tôi cả 5 người phải phá mái nhà, dìu nhau sang ngọn cây duối còn chút ngọn vật vờ ngoài ngõ, bứt dây neo người lại với nhau để có chết thì không mất xác”. Bên bờ sông Gianh, có bao cô gái đã tiễn những chàng trai của mình ra trận, vòm ngực trai vồng lên sau những tràng hoa phượng đỏ như máu chảy. Rồi chính các cô, chỉ vài tháng sau, đón tin chàng trai trở về trên tờ giấy báo tử. Đêm, sông Gianh đã hòa vào mình những lệ nghẹn ngào của mối tình chưa dám ngỏ và trong lòng đất mẹ, có biết bao nhiêu đôi môi trai chưa kịp biết nụ hôn có vị gì, đã mãi mãi câm lặng. Con sông đau mòn phế phủ, con sông ngọt ngào, con sông chảy trôi bao thế hệ. Sau bão là phù sa. Ký ức BÃO của Lương Duy Cường cũng chính là một thứ phù sa chữ, phù sa tâm hồn.

Trong Ký ức BÃO, Lương Duy Cường còn là một gã pha màu năm tháng. Anh dụng công vào cặp màu đối nghịch: đỏ - năng lượng dương, tím - năng lượng âm. Đỏ loang triền sông Gianh, cháy suốt năm tháng thơ ngây và thanh tân của anh, thì tím là một lời thì thầm rất mộng. Huế là cột mốc định danh đường về của một người con xa quê như anh, nên đến Huế là về. Hơn thế, đây cũng chính là nơi thắp lên thời thanh niên sôi nổi của anh, nơi anh gặp mối tình của mình. 

Ngòi bút anh không từ chối những gai góc, khuất lấp của cuộc đời, nhưng không vì thế mà khô cứng trong tình yêu. Tím độ em về là một đoản khúc vài trang trong cuốn sách, nhưng nó lại là trường khúc bất tận trong tim người trai Quảng Bình. 

Ngòi bút anh soi vào màu tím hoa xoan mỗi độ xuân nồng, đẩy thành một cơn kí ức về lịch sử Kinh Đô xứ Huế, nơi những vương triều soi bóng. Nhớ chạm dòng sông dùng dằng trong thơ Thu Bồn. Rồi diễm lệ, u huyền trong cơn phóng sinh sắc màu thiên nhiên của hoang sơ đỉnh cao Bạch Mã. Trong một phút hưng cảm giữa đại ngàn trùng điệp, bút anh đã tỏa màu ảo diệu, đẹp thổn thức “Ngay dưới chân những luồng sáng ấy là vô số đàn bướm thoắt xanh, thoắt tím, thoắt vàng trong vũ khúc hoan mê của bất tận khói sương, bất tận hoang sơ. Và từ những bậc đá nơi dòng nước đang lao ầm ầm như ngựa chứng ấy, bỗng đột ngột khởi cả một dải lụa tím đến nao lòng của tầng tầng hoa mua, hoa bằng lăng và cả loài quyên tím”. Tôi đọc như uống, vì sợ dừng lại, cái màu tím đẹp đến vô thực kia sẽ tan biến.

Lương Duy Cường là kẻ nặng ân tình, nên vốn liếng giàu có của anh là sự tử tế. Chữ anh Chan chứa những ân tình. Bao năm xa quê, vất vưởng gió bụi triền đời, cuối cùng gia đình anh cũng có được hộ khẩu thành phố, vì thế mà có được ngôi nhà an ấm bởi trong chiến tranh, cha anh “dứt khoát xin quay về phục vụ tuyến lửa” … “cán bộ từng vào tiếp quản miền Nam ít nhiều đều có công với thành phố này. Đặc biệt con em tuyến lửa,thành phố phải tạo mọi điều kiện để giúp đỡ, vì trong chiến tranh họ đã thiệt thòi nhiều”. Ký ức ấy như sự biết ơn với đấng sinh thành, với người đã giúp đỡ anh. Người không ký ức là người bất hạnh và nghèo khó.

Tôi nghĩ, mỗi ngày sống của Lương Duy Cường sẽ là mỗi đắp đổi cho đầy vơi ký ức. Chắc chắn, anh còn rất nhiều mong ước về cuốn ký ức đời mình, đó là bất ngờ của ngày mai. Nhưng hiện tại, với ngót 200 trang, Ký ức BÃO của anh đã cho tôi thấy được những trải nghiệm của thế hệ anh, một thế hệ từng chứng kiến chiến tranh quét qua những người thân, người bạn và quê hương mình, đau thương, mất mát đã khiến họ chắt chiu sự sống, kiên cường bản lĩnh và chân thành. Chữ cũng vậy, nếu không thật, sẽ chỉ lấy được những khóc cười giả tạo.

Kí là thể loại hấp dẫn độc giả bằng sự thật nhưng lại mê hoặc họ bằng sự mộng mơ. Thử tưởng tượng xem, nếu một ngày kia, sự thật bị đánh cắp và tâm hồn cạn vốn liếng, bạn hay tôi, chúng ta chỉ là những kẻ nghèo khó kiệt cùng mà thôi. Cũng như, vào đời, mong cầu bình an, ấy là cách bạn biến mình thành một kẻ nhợt nhạt. Suy cho cùng, những cơn BÃO, chính là cách để cuộc đời tôi rèn bạn.

Nguyên Tô

Khắc khoải Dương Kiều Minh
Khắc khoải Dương Kiều Minh

Ngay những bài trong tập "Củi lửa", tập thơ xuất bản đầu tiên (NXB "Tác phẩm mới", 1989), Dương Kiều Minh đã biểu...

Tin liên quan

Tin mới nhất

Họa sĩ, nhà giáo Nguyễn Trọng Hiệp người tận tâm với nghề

Họa sĩ, nhà giáo Nguyễn Trọng Hiệp người tận tâm với nghề

Nhà giáo, hoạ sĩ Nguyễn Trọng Hiệp là một trong những hoạ sĩ được đào tạo bài bản, thành danh sớm của Nghệ An. Là một hoạ sĩ và lại là nhà giáo, ông đã lao động liên tục không mệt mỏi đóng góp cho mỹ thuật và đóng góp công sức cho việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên mỹ thuật bậc tiểu học và trung học cơ sở cho hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh.